Thursday, September 30, 2010

Các triệu chứng của ung thư

Các triệu chứng của ung thư

Ung thư thường không có những triệu chứng đặc trưng vì vậy điều quan trọng là bạn cần phải hạn chế những yếu tố nguy cơ và cần được tầm soát ung thư một cách thích đáng.

Tuy nhiên, bạn cần phải biết những triệu chứng có thể gợi ý đến ung thư. Chắc chắn là bạn sẽ không muốn bỏ qua những dấu hiệu báo động để có thể giúp chẩn đoán sớm và điều trị được.

NHỮNG DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA UNG THƯ

Ung thư có thể không gây ra triệu chứng hoặc dấu hiệu nào để có thể xác định chính xác bệnh. Tất cả những dấu hiệu xuất hiện ở những bệnh nhân bị ung thư cũng có thể xuất hiện ở những tình huống vô hại. Nếu có những triệu chứng, bạn nên đi khám bác sĩ. Sau đây là một số triệu chứng thường gặp:

  • Ho dai dẳng hoặc trong nước bọt có vệt máu

    • Những triệu chứng này thường là biếu hiện của một tình trạng nhiễm trùng thông thường như viêm phế quản hoặc viêm xoang.

    • Tuy nhiên chúng cũng có thể là biểu hiện của ung thư phổi, đầu và cổ. Nếu ho kéo dài hơn 1 tháng hoặc có ho khạc ra đàm có lẫn máu thì bạn nên đi khám bệnh.

  • Thay đổi thói quen đi cầu

    • Thỉnh thoảng phân hình thỏi bút chì gợi ý ung thư trực tràng

    • Đôi khi, ung thư cũng có thể biểu hiện bằng một tình trạng tiêu chảy kéo dài.

    • Một số bệnh nhân bị ung thư lại có cảm giác muốn đi cầu hoặc vẫn còn muốn đi sau khi đã đi cầu xong. Nếu tình trạng bất thường về vấn đề đường ruột của bạn kéo dài lâu hơn vài ngày, bạn cần được khám bệnh để đánh giá.

  • Máu trong phân

    • Bác sĩ nên luôn kiểm tra trong phân của bạn có máu hay không

    • Bệnh trĩ thường gây ra tình trạng đi cầu ra máu nhưng vì bệnh trĩ là bệnh thường gặp nên chúng có thể cùng tồn tại chung với ung thư. Do đó, ngay cả khi bị trĩ bạn cũng nên đi khám bác sĩ để kiểm tra toàn bộ đường ruột nếu đi cầu ra máu:

      • Có thể chỉ cần chụp X quang.

      • Đôi khi, nếu nguồn gốc chảy máu của bạn đã quá rõ ràng thì những xét nghiệm này cũng có thể không cần thiết.

  • Thiếu máu không rõ nguyên nhân

    • Thiếu máu là tình trạng số lượng hồng cầu trong máu giảm xuống thấp hơn mức cần thiết. Tình trạng thiếu máu nên được kiểm tra rõ ràng.

    • Có rất nhiều loại thiếu máu nhưng thiếu máu thiếu sắt thường gặp nhất. Trừ phi, nguồn gốc máu mất được xác định rõ như phụ nữ đang có kinh, các trường hợp còn lại nên được giải thích một cách rõ ràng.

    • Nhiều loại ung thư có thể gây ra tình trạng thiếu máu nhưng ung thư đường tiêu hóa gây ra tình trạng thiếu máu thiếu sắt nhiều nhất. Việc đánh giá cần bao gồm: nội soi, X – quang đường tiêu hóa trên hoặc dưới.

  • Vú có khối u hoặc chảy mủ

    • Hầu hết những khối u ở vú thường không phải là ung thư như u sợi bọc hay nang nước. Nhưng tất cả các khối u ở vú đều phải được khám xét kỹ lưỡng.

      • Kết quả nhũ ảnh âm tính không đủ để đánh giá tình trạng khối u vú.

      • Thông thường cần chẩn đoán dựa vào chọc hút bằng kim nhỏ hoặc dựa vào giải phẫu bệnh lý (lấy một mẫu mô nhỏ đi kiểm tra).

      • Vú chảy dịch rất thường gặp. Một số dạng chảy dịch ở vú cũng có thể là dấu hiệu của ung thư. Nếu dịch chảy là máu hoặc chỉ có 1 núm vú bị chảy dịch thì tốt nhất bạn nên đi khám để được đánh giá sâu hơn.

    • Tất cả những phụ nữ đều được khuyến cáo nên tự khám vú mỗi tháng một lần.

  • Khối u ở tinh hoàn

    • Hầu hết nam giới (90%) bị ung thư tinh hoàn có triệu chứng là xuất hiện một khối u không đau hoặc gây khó chịu ở tinh hoàn.

    • Một số người cảm thấy tinh hoàn to lên.

    • Tuy nhiên trong một trường hợp khác như nhiễm trùng, sưng tĩnh mạch cũng có gây ra sự thay đổi ở tinh hoàn, nhưng bạn cũng nên đi khám và kiểm tra.

    • Nam giới được khuyến cáo tự khám tinh hoàn của mình mỗi tháng một lần.

  • Rối loạn đi tiểu.

    • Những triệu chứng của rối loạn đi tiểu như tiểu lắt nhắt, số lượng nước tiểu ít và dòng nước tiểu khi đi tiểu yếu.

    • Những triệu chứng này có thể do những trùng tiểu hoặc phì đại tiền liệt tuyến ở nam.

      • Khi có tuổi, nam giới thường bị phì đại tiền liệt tuyến nhưng đó là một tình trạng lành tính và thường gây ra những triệu chứng này.

      • Tuy nhiên, những triệu chứng này có thể là những dấu hiệu của ung thư tiền liệt tuyết.

      • Khi cảm thấy những triệu chứng ở đường niệu, bạn nên được kiểm tra, có thể bao gồm những xét nghiệm máu chuyên biệt như: PSA (Prostate specific antigen – Kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến) và khám hậu môn trực tràng bằng ngón tay.

    • Ung thư bàng quang và khối u ở khung chậu cũng có thể gây kích thích bàng quang và đi tiểu nhiều lần.

  • Tiểu máu

    • Tiểu máu có thể do tình trạng nhiễm trùng, sỏi thận hoặc do những nguyên nhân khác.

    • Tuy nhiên đây cũng có thể là triệu chứng ung thư bàng quang hoặc thận.

    • Bất kỳ giai đoạn nào có máu trong nước tiểu cũng cần phải được kiểm tra.

  • Khàn giọng

    • Khàn giọng nếu không phải do nhiễm trùng đường hô hấp hoặc kéo dài từ 3 – 4 tuần nên được đi kiểm tra.

    • Khàn giọng có thể chỉ là dị ứng hoặc polyp tại dây thanh âm nhưng đó cũng có thể là dầu hiệu đầu tiên của ung thư thanh quản.

  • Khối u hoặc nang tuyến sưng kéo dài

    • Hầu hết những khối u là biểu hiện của một tình trạng lành tính. Tuy nhiên bạn nên đi khám bệnh khi thấy xuất hiện những khối u mới hoặc những khối u không mất đi hoặc chúng ngày càng to lên.

    • U có thể là ung thư hoặc những hạch bạch huyết bị sưng lên có liên quan đến ung thư.

    • Những hạch sưng lên có thể là do tình trạng nhiễm trùng hay những nguyên nhân khác và tự mất đi sau vài tuần.

    • Những khối u hoặc nang tuyến vẫn còn sưng trong 3 – 4 tuần cần phải được các bác sĩ kiểm tra.

  • Sự thay đổi của nốt ruồi hoặc mụn cóc

    • Những nốt ruồi có nhiều màu sắc có bờ không đều hoặc chảy máu đều có thể là ung thư

    • Kích thước nốt ruồi càng lớn càng đáng lo ngại hơn.

    • Tẩy nốt ruồi rất đơn giản. Bạn nên tẩy những nốt ruồi đáng nghi ngờ. Các bác sĩ sẽ gửi chúng đi kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định xem có phải là ung thư da hay không.

  • Khó tiêu hoặc nuốt khó

    • Hầu hết những bệnh nhân bị ợ nóng mạn tính thường không phải là một vấn đề nghiêm trọng.

    • Những bệnh nhân có triệu chứng kéo dài mạn tính mặc dù đã sử dụng các thuốc kháng acid nên cần được nội soi đường tiêu hóa trên.

    • Bệnh lý thực quản Barrette, có thể dẫn đến ung thư thực quản, cần được điều trị bằng thuốc và sau đó cần được bác sĩ theo dõi.

    • Nuốt khó rất thường gặp đặc biệt là những người lớn tuổi và có thể có nhiều nguyên nhân.

      • Khi có những vấn đề về nuốt bạn cần đi khám bác sĩ vì chức năng dinh dưỡng lúc nào cũng quan trọng.

      • Nuốt khó thức ăn lỏng có thể gặp ở những bệnh nhân ung thư thực quản.

  • Xuất huyết hoặc tiết dịch âm đạo bất thường

    • Xuất huyết hoặc tiết dịch có máu ở âm đạo bất thường có thể dấu hiệu sớm của ung thư tử cung. Bạn nên đi khám bác sĩ nếu chảy máu sau khi giao hợp hoặc xuất huyết giữa chu kỳ.

    • Bị chảy máu trở lại, hoặc kéo dài nhiều ngày hơn bình thường (rong kinh), hoặc lượng máu kinh ra nhiều hơn bình thường đều cần phải được khám bệnh.

    • Xuất huyết âm đạo sau tuổi mãn kinh, trừ phi nghĩ rằng do tác dụng của quá trình điều trị bằng hormon, nếu không cũng là điều đáng lo ngại và cần phải được đánh giá đúng mức.

    • Thông thường việc đánh giá sẽ bao gồm nạo sinh thiết buồng tử cung, là khi các bác sĩ lấy một mẫu mô nhỏ ở bên trong tử cung để kiểm tra.

  • Sụt cân, đổ mồ hôi đêm hoặc sốt

    • Những triệu chứng không điển hình này có thể xuất hiện trong loại ung thư khác nhau

    • Nhiều loại nhiễm trùng cũng có thể dẫn đến những triệu chứng tương tự.

  • Ngứa hậu môn hoặc âm đạo kéo dài

    • Tiền ung thư hoặc ung thư ở da vùng hậu môn hoặc âm đạo có thể gây ra tình trạng ngứa kéo dài.

    • Bạn cần để ý đến những thay đổi màu da.

    • Nhiễm trùng nặng hoặc bệnh lý về da khác cũng có thể dẫn đến những triệu chứng này. Nếu ngứa liên tục dù đã dùng những thuốc bôi tại chỗ thông thường, bạn nên đến bác sĩ để được khám ở khu vực này.

  • Những vết thương không lành

    • Các vết thương thường lành nhanh. Nếu một vùng vết thương không lành, bạn có thể bị ung thư và nên đi khám bệnh.

    • Những vết thương không lành ở miệng hoặc những mảng màu trắng hoặc đỏ ỏ lưỡi, lợi, amidan cũng rất đáng quan tâm.

  • Đau đầu

    • Đau đầu có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng ung thư không phải là một nguyên nhân phổ biến.

    • Đau đầu dữ dội không giảm và cảm thấy khác bình thường có thể là dấu hiệu của ung thư.

    • Nếu đau đầu không giảm với những thuốc giảm đau thông thường, bạn nên đi khám bác sĩ ngay lập tức.

  • Đau lưng, đau vùng chậu, phù hoặc khó tiêu

    • Đây là những dấu hiệu thường gặp trong cuộc sống hằng ngày nhưng chúng cũng có thể gặp trong ung thư buống trứng.

    • Loại ung thư này đặc biệt khó điều trị vì chúng thường được chẩn đoán trễ.

    • Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ và những tổ chức khác đang cố gắng làm cho cả bệnh nhân và bác sĩ có thể nhận biết và chẩn đoán sớm bệnh khi có những triệu chứng kinh điển.

KẾT LUẬN

  • Ung thư là nguyên nhân tử vong đứng hang thứ hai sau bệnh tim.

  • Những loại ung thư đã được chẩn đoán có khả năng chữa được chiếm một tỷ lệ đáng kể.

  • Khả năng điều trị trong ung thư rất cao nếu được phát hiện sớm. Mặc dù một số loại ung thư có thể phát triển mà không có bất kỳ triệu chứng nào, nhưng chúng có thể có sức tàn phá rất cao nếu như bạn bỏ qua những triệu chứng đó do không nghĩ chúng là biểu hiện của ung thư.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Wednesday, September 29, 2010

Liệu pháp gen trong điều trị ung thư

Liệu pháp gen

Gen là đơn vị sinh học cơ bản của di truyền, nó giúp xác định những đặc điểm dễ thấy trên cơ thể người như màu tóc, màu mắt cũng như những đặc điểm khó thấy hơn như khả năng chuyên chở oxy của máu. Những đặc điểm phức tạp, chẳng hạn như thể lực, có thể là kết quả của sự tương tác của nhiều loại gen khác nhau cùng với tác động của môi trường.

Gen nằm trong các nhiễm sắc thể bên trong tế bào và được tạo thành từ các DNA (deoxyribonucleic acid) là một loại phân thử sinh học. Con người có khoảng từ 30,000 đến 40,000 gen. Gen mang những thông tin cho phép các tế bào sản xuất ra những loại protein đặc biệt, chẳng hạn như enzyme.

Để tạo thành protein, đầu tiên các tế bào phải sao chép thông tin chứa trong gen vào một loại phân tử khác có tên là RNA (ribonucleic acid). Các protein sau đó được tổng hợp và giải mã những thông tin trên RNA để sản xuất ra những loại protein đặc biệt. Chỉ có một số loại gen nhất định của tế bào hoạt động ở mọi thời điểm. Khi tế bào trưởng thành, nhiều gen của nó sẽ trở nên bất hoạt vĩnh viễn. Lịch hoạt động và bất hoạt của các gen trong tế bào và những kết quả của nó là thành phần cấu tạo protein cho phép xác định loại tế bào và những gì nó có thể và không thể thực hiện được. Những sai sót trong gen có thể gây ra bệnh.

Liệu pháp gen là gì?

Những tiến bộ trong sự hiểu biết và khả năng tác động lên gen tạo điều kiện cho các nhà khoa học có thể thay đổi vật chất di truyền của người để chống lại hoặc ngăn ngừa bệnh tật. Liệu pháp gen là một loại điều trị thử nghiệm bằng cách đưa những vật chất di truyền (DNA hoặc RNA) vào cơ thể người để chống lại bệnh tật. Liệu pháp gen đang được nghiên cứu trên các thử nghiệm lâm sàng (những nghiên cứu trên con người) ở nhiều loại ung thư khác nhau và những bệnh khác nhau. Hiện nay nó vẫn chưa được cho phép sử dụng bên ngoài khác thử nghiệm lâm sàng.

Liệu pháp gen đang được nghiên cứu trong điều trị ung thư như thế nào?

Các nhà khoa học đang nghiên cứu dùng liệu pháp gen để điều trị ung thư theo nhiều cách khác nhau. Một số cách nhắm tới mục tiêu là các tế bào khỏe mạnh để tăng cường khả năng chống lại ung thư của chúng. Một số cách khác nhắm đến mục tiêu là các tế bào ung thư để tiêu diệt và ngăn không cho chúng phát triển. Dưới đây là một số kỹ thuật liệu pháp gen đang được nghiên cứu:

  • Các nhà khoa học thay những gen bị thiếu hoặc bị thay đổi bằng những gen khỏe mạnh. Do một số gen nếu bị thiếu hoặc thay đổi (vd như p53) có thể gây ung thư, bản sao thay thế đang hoạt động của những loại gen này có thể được sử dụng để điều trị ung thư.
  • Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu cách tăng cường đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân đối với ung thư. Ở cách này, liệu pháp gen được dùng để kích thích khả năng tự nhiên của cơ thể chống lại các tế bào ung thư. Ở một phương pháp đang được nghiên cứu, các nhà khoa học lấy một mẫu máu nhỏ từ bệnh nhân và đưa vào đó những loại gen làm cho các tế bào sản xuất ra một loại protein có tên là thụ thể tế bào T (TCR - T-cell receptor). Những loại gen được đưa vào các tế bào bạch cầu của bệnh nhân (có tên là lympho T) sau đó được truyền ngược trở lại vào cơ thể. Bên trong cơ thể, các bạch cầu sản xuất ra TCR, TCR sẽ gắn với lớp mặt ngoài của các bạch cầu. Sau đó TCR sẽ nhận ra và gắn với một số phân tử hiện diện trên bề mặt của các tế bào u. Cuối cùng, TCR sẽ hoạt hóa bạch cầu để tấn công các tế bào u này.
  • Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu cách đưa gen vào trong các tế bào ung thư để làm chúng nhạy cảm hơn với hóa trị, xạ trị hoặc những phương pháp điều trị khác. Trong những nghiên cứu khác, các nhà khoa học lấy những tế bào mầm tạo máu khỏe mạnh ra khỏi cơ thể rồi đưa gen vào các tế bào này để giúp chúng tăng khả năng kháng cự lại với các tác dụng phụ của những loại thuốc kháng ung thư dùng ở liều cao. Sau đó, các tế bào này được đưa trở lại cơ thể bệnh nhân.
  • Ở một cách khác, các nhà khoa học đưa những loại "gen tự vẫn" vào các tế bào ung thư của bệnh nhân. Những tiền chất của thuốc (dạng bất hoạt của thuốc độc) được đưa vào cơ thể bệnh nhân. Những chất này sẽ hoạt hóa các tế bào ung thư có chứa những loại "gen tự vẫn" trên dẫn đến sự hủy hoại của chính bản thân chúng.
  • Những nghiên cứu khác tập trung vào việc dùng liệu pháp gen để ngăn các tế bào ung thư tạo thêm những mạch máu mới.

Trong liệu pháp gen, gen được đưa vào tế bào như thế nào?

Nói chung, không thể đưa gen trực tiếp vào tế bào người được mà phải qua trung gian các phương tiện vận chuyển, hay còn gọi là các vector. Vector thường được dùng nhất trong liệu pháp gen là các virus. Các loại virus có một khả năng độc đáo là có thể nhận dạng một số loại tế bào và đưa vật chất di truyền vào bên trong chúng được.

Ở một số thử nghiệm lâm sàng, các tế bào của máu của bệnh nhân hoặc tủy xương sẽ được lấy ra và phát triển trong phòng thí nghiệm. Các tế bào này tiếp xúc với virus mang những loại gen mong muốn. Virus đi vào tế bào và đưa gen vào trong các DNA của tế bào. Các tế bào phát triển bên trong phòng thí nghiệm và sau đó được đưa trở lại cơ thể bệnh nhân qua đường tĩnh mạch. Loại liệu pháp gen này được gọi là ex vivo do các tế bào phát triển bên ngoài cơ thể. Gen được đưa vào các tế bào bệnh nhân khi các tế bào này đang ở ngoài cơ thể.

Ở những nghiên cứu khác, các vector (thường là virus) hoặc các liposome (hạt mỡ) được dùng để đưa gen vào các tế bào của cơ thể bệnh nhân. Loại liệu pháp gen này được gọi là in vivo vì gen được đưa vào các tế bào ở bên trong cơ thể bệnh nhân.

Loại virus nào được sử dụng trong liệu pháp gen và cách làm cho chúng có thể sử dụng được an toàn?

Nhiều thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp gen sử dụng retrovirus để đưa gen vào cơ thể. Những loại virus khác được dùng làm vector bao gồm: adenovirus, những virus liên quan đến adeno, lentivirus, poxvirus, và herpes virus. Những loại virus trên khác nhau ở các đặc điểm như hiệu quả đưa gen vào các tế bào mà chúng nhận ra, khả năng lây nhiễm và làm thay đổi DNA của tế bào vĩnh viễn hay tam thời. Do đó, các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều loại vector khác nhau tùy thuộc vào những đặc điểm riêng và những đòi hỏi của nghiên cứu.

Các nhà khoa học thay đổi virus được dùng trong liệu pháp gen để làm cho chúng trở nên an toàn đối với con người và gia tăng khả năng đưa những loại gen chuyên biệt vào các tế bào của bệnh nhân. Tùy thuộc vào loại virus và mục tiêu nghiên cứu, các nhà khoa học có thể làm bất hoạt một số gen của virus để ngăn không cho chúng sinh sản hoặc gây bệnh. Các nhà khoa học cũng có thể làm thay đổi các virus này để chúng có thể nhận biết và xâm nhập vào các tế bào mục tiêu tốt hơn.

Những nguy cơ của các thử nghiệm liệu pháp gen hiện thời là gì?

Virus có thường gây nhiễm cho nhiều loại tế bào. Do đó, khi vector là virus được dùng để mang gen đưa vào cơ thể, chúng có thể gây nhiễm cho các tế bào khỏe mạnh cũng như các tế bào ung thư. Một nguy cơ khác là các gen mới có thể được đưa vào sai vị trí bên trong DNA có thể gây ra những đột biến nguy hiểm cho DNA hoặc thậm chí gây ung thư.

Ngoài ra, khi virus hoặc liposome được dùng để đưa DNA vào các tế bào bên trong cơ thể, sẽ có một tỷ lệ nhỏ xảy ra khả năng DNA được đưa vào các tế bào sinh sản của bệnh nhân một cách vô ý. Khi đó, chúng sẽ gây ra những thay đổi di truyền đến thế hệ sau nếu bệnh nhân có con sau khi điều trị.

Những mối lo ngại khác bao gồm khả năng gen đưa vào có thể lan rộng quá mức, tạo ra quá nhiều protein gây nguy hiểm, hoặc vector virus có thể gây viêm hoặc phản ứng miễn dịch, và virus có thể truyền từ bệnh nhân đến những người khác hoặc đi vào môi trường. Các nhà khoa học thử nghiệm trên động vật để xác định và tránh những nguy cơ trên trước khi thực hiện bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên người.

Những trở ngại chính nào mà các nhà khoa học phải vượt qua trước khi đưa liệu pháp gen trở thành kỹ thuật thông dụng để trị bệnh là gì?

Các nhà khoa học cần phải tìm ra thêm nhiều cách hiệu quả hơn để đưa gen vào cơ thể. Để điều trị ung thư và những bệnh khác hiệu quả hơn với liệu pháp gen, các nhà nghiên cứu cần phải phát triển những loại vector có thể tiêm vào cơ thể bệnh nhân và tập trung đặc biệt vào những tế bào mục tiêu nằm ở khắp cơ thể. Cần phải làm thêm nhiều việc nữa để bảo đảm các vector sẽ đưa gen vào từng tế bào mục tiêu một cách thành công.

Các nhà nghiên cứu cũng cần phải đủ khả năng đưa gen một cách phù hợp vào vị trí chính xác trong DNA của bệnh nhân và bảo đảm gen đưa vào được kiểm soát chính xác bởi những dấu hiệu sinh lý bình thường của cơ thể.

Mặc dù các nhà khoa học đang làm việc cật lực để giải quyết những vấn đề trên nhưng không thể tiên đoán trước được lúc nào họ sẽ cho ra những giải pháp hiệu quả.

Bệnh đầu tiên được chấp nhận điều trị bởi liệu pháp gen là thiếu Adenosine deaminase (ADA). Loại bệnh này là gì và vì sao nó được chọn?

Thiếu ADA là một bệnh di truyền hiếm gặp. Gen ADA bình thường sản xuất ra một loại enzyme có tên là adenosine deaminase đóng vai trò cơ bản trong hệ miễn dịch của cơ thể. Bệnh nhân bị thiếu ADA là những người không có gen ADA bình thường và không sản xuất ra các enzyme ADA chức năng. Những trẻ bị thiếu ADA khi sinh ra sẽ bị suy giảm miễn dịch nặng và dễ bị nhiễm trùng nặng lặp lại có thể gây nguy hiểm tính mạng. Mặc dù bệnh thiếu ADA có thể được điều trị bằng thuốc PEG-ADA, nhưng loại thuốc này rất đắt tiền và cần phải sử dụng suốt đời qua đường tiêm truyền tĩnh mạch.

Thiếu ADA được chấp nhận trở thành loại bệnh đầu tiên được điều trị thử nghiệm bằng liệu pháp gen do một số lý do sau:

  • Đây là loại bệnh được gây ra bởi một loại gen duy nhất do đó tăng khả năng thành công của liệu pháp gen.
  • Quá trình điều hòa của gen cũng đơn giản, không giống như nhiều loại gen khác với quá trình điều hòa phức tạp.
  • Lượng ADA hiện diện không cần phải được điều hòa một cách chính xác. Thậm chí chỉ một lượng nhỏ enzyme cũng đủ có lợi cho bệnh nhân và nếu enzyme xuất hiện với một lượng lớn cũng có thể được dung nạp tốt.

Những vấn đề xã hội và đạo đức xung quanh liệu pháp gen

Nhìn một cách toàn diện thì những vấn đề mà liệu pháp gen phải đối mặt cũng tương tự như những vấn đề xảy ra mỗi khi có một kỹ thuật mới mạnh mẽ xuất hiện. Những kỹ thuật này có thể hoàn thiện rất tốt những chúng cũng có thể gây ra những tổn hại lớn nếu được sử dụng bất cẩn.

Liệu pháp gen hiện nay tập trung vào việc sửa chữa những sai sót về gen và trị dứt hẳn những bệnh đe dọa mạng sống, và những loại nghiên cứu này dùng phương pháp điều hòa để thực hiện. Nhưng trong tương lai, khi kỹ thuật trong liệu pháp gen trở nên đơn giản hơn và dễ tiếp cận hơn, xã hội sẽ phải đối mặt với những vấn đề phức tạp hơn.

Một trong số những vấn đề đó là khả năng thay đổi gen di truyền của trứng hoặc phôi người, là những tế bào sinh sản di truyền gen sang những thế hệ sau (do những tế bào sinh sản còn được gọi là các tế bào mầm nên loại liệu pháp gen này còn được gọi là liệu pháp gen tế bào mầm). Một vấn đề khác là khả năng cải thiện năng lực của con người - chẳng hạn như tăng cường trí nhớ, sự thông minh - bằng cách can thiệp vào gen. Mặc dù liệu pháp gen tế bào mầm và cải thiện di truyền có khả năng mang lại những lợi ích, nhưng những vấn đề có thể xảy ra gây lo ngại cho nhiều nhà khoa học. Liệu pháp gen tế bào mầm có thể thay đổi vĩnh viễn cấu tạo gen của các thế hệ sau. Do đó hệ gen của con người có thể bị ảnh hưởng vĩnh viễn. Mặc dù những thay đổi này có thể hướng đến những điều tốt đẹp hơn nhưng những sai sót trong kỹ thuật có thể cho những hậu quả lâu dài về sau. NIH không chấp thuận thực hiện liệu pháp gen tế bào mầm trên cơ thể người.

Đối với vấn đề cải thiện di truyền, có một mối lo lắng rằng nó sẽ trở nên một món hàng xa xỉ chỉ dành cho những người giàu có và quyền lực. Một số người còn lo lắng rằng nếu kỹ thuật này được dùng rộng rãi sẽ dẫn đến một định nghĩa mới về "bình thường" có thể sẽ loại trừ những người có mức thông mình trung bình đơn thuần. Và một số người liên hệ những phương pháp di truyền này với khái niệm "ưu sinh" được dùng nhiều trước đây, hoặc nghiên cứu những phương pháp cải thiện chất lượng di truyền qua sinh sản chọn lọc.

Những gì đang được làm để giải quyết các vấn đề xã hội và đạo đức trên?

Các nhà khoa học đang làm việc cho dự án gen người (HGP - Human Genome Project) để hoàn thành vẽ sơ đồ và sắp xếp tất các bộ gen của con người đã nhận ra rằng những thông tin có được từ dự án này có thể làm thay đổi sâu sắc đến từng cá nhân, gia đình và xã hội. Chương trình nghiên cứu về những ảnh hưởng trên đạo đức, luật pháp và xã hội (Ethical, Legal, and Social Implications - ELSI) được thành lập vào năm 1990 là một bộ phận của HGP để giải quyết những vấn đề này. Chương trình nghiên cứu ELSI thúc đẩy những nghiên cứu cơ bản và hữu dụng về những ảnh hưởng trên đạo đức, luật pháp và xã hội của các nghiên cứu gen và di truyền đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng. Chương trình nghiên cứu ELSI bảo trợ và quản lý các nghiên cứu, hỗ trợ những hội thảo, những hội nghị chính trị về những đề tài trên.

Theo National Cancer Institute - Y học NET dịch

Tuesday, September 28, 2010

Ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày

Dạ dày là một túi cơ có sức chứa khoảng 1 lít. Nó là một phần của ống tiêu hóa, nối thực quản và ruột non. Dạ dày dùng để chứa thức ăn sau khi nuốt và là nơi bắt đầu quá trình tiêu hóa. Thành trong của dạ dày chứa những tuyến tiết ra acid và các men tiêu hóa.

Dạng ung thư thường gặp nhất ở dạ dày là ung thư tế bào niêm mạc tuyến xuất phát từ các tuyến ở lớp nằm trong cùng của dạ dày. Khối u này có khuynh hướng lan rộng ra, xuyên qua thành dạ dày và từ đó ăn vào những cơ quan lận cận (như tụy, lách) và các hạch. Và chúng có thể lan theo đường máu hoặc hệ thống bạch huyết đến cơ quan khác xa hơn (sự di căn).

  • Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do ung thư dạ dày tăng lên một cách rõ rệt trong vòng 60 năm qua. Vào những năm 1930, ung thư dạ dày là nguyên nhân hàng đầu gây ra các trường hợp tử vong có liên quan đến bênh ung thư của nam giới Hoa Kỳ. Tuy nhiên, từ đó đến nay, tỷ lệ nam giới chết do ung thư dạ dày tại Mỹ đạ giảm xuống từ 28 người xuống còn 5 người trên mỗi 100,000 người.
  • Vào năm 1996, có 22,800 trường hợp mới được chẩn đoán tại Mỹ và có 14,000 người chết. Loại ung thư này xuất hiện nhiều gấp 1,5 đến 2,5 lần ở người Mỹ gốc Phi, Hispanic và những người Mỹ bản xso với người Mỹ da trắng.

Những yếu tố nguy cơ

  • Ung thư dạ dày vẫn còn là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây ra các trường hợp tử vong có liên quan đến ung thư trên thế giới, và đặc biệt tăng cao ở Nhật, Hàn Quốc, một phần Đông Âu và Chây Mỹ Latin. Những yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến bệnh ung thư dạ dày bao gồm:
    • Đời sống kinh tế xã hội thấp
    • Nam giới
    • Tuổi trung niên
    • Trước đây đã được chẩn đoán thiếu máu ác tính (một bệnh tiến triển mãn tính do cơ thể không thể hấp thụ được vitamin B12)
    • Chế độ ăn thiếu trái cây tươi, rau và có nhiều thịt hoặc cá xông khói hoặc ướp muối nhiều và những thức ăn bảo quản kém.
  • Cắt bán phần dạ dày trong điều trị u lành tính ở dạ dày hoặc loét ta tràng có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ phát triển thành ung thư ở phần dạ dày còn lại, đc biệt là từ sau 15 năm sau phẫu thuật trở đi.
  • Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh ung thư dạ dày tăng cao ở những bệnh nhân bị nhiễm Helicobacter pylori mn tính , đây là nguyên nhân gây viêm dạ dày mn tính loét dạ dày tá tràng.
  • Những người trong gia đình (cùng huyết thống) bị ung thư dạ dày cũng là một yếu tố nguy cơ.
  • Những người thuốc nhóm máu A cũng có nguy cơ cao hơn những nhóm máu khác.

Triệu chứng

Những triệu chứng sớm của bệnh ung thư dạ dày thường mơ hồ và không đặc hiệu. Bạn nên đi kiểm tra sức khỏe nếu có những triệu chứng sau:

  • Cảm thấy khó chịu vùng bụng trên kèm theo nôn và chán ăn.
  • Nuốt khó vì khối u nằm ở phần trên của dạ dày, gần thực quản.
  • Cảm thấy đầy bụng dù chỉ ăn một lượng nhỏ thức ăn.

Những triệu chứng sau có thể là dấu hiệu báo động bệnh đã nặng hơn:

  • Mệt mỏi
  • Sụt cân
  • Thiếu máu thiếu sắt
  • Nôn ra máu hoặc chất nôn có màu bã cà phê hoặc đi cầu phần đen tanh hôi như nhựa đường.
  • Buồn nôn, nôn nhiều, dữ dội đây là triệu chứng ở giai đoạn muộn vì dạ dày không thể tống thức ăn xuống tá tràng do khối u quá lớn.
  • Sờ thấy khối u ở vùng bụng trên (nếu có thể tự sờ thấy khối u ở bụng thì khối u đã phát triển rất lớn)

Chẩn đoán

Có 2 thủ thuật được dùng để chẩn đoán ung thư dạ dày:

  • Nội soi dạ dày được đặt ở vị trí cao hơn do nó cho phép nhìn trực tiếp vào những nơi cần quan tâm. Bác sĩ cũng có thể lấy một mẫu mô của dạ dày (sinh thiết) để xác định chẩn đoán.
  • Chụp dạ dày bằng barium cũng là một khảo sát hiệu quả trong phát hiện ung thư dạ dày, mặc dù nó có thể cho hiệu quả kém trong việc phát hiện những khối u nhỏ.
    • Những vùng bị nghi ngờ khi khảo sát bằng barium luôn cần phải được kiểm tra lại kỹ hơn bằng nội soi.
    • Chụp barium đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề tầm soát do chúng gây ít khó chịu hơn so với soi dạ dày.
  • Khi bác sĩ đã xác định được chẩn đoán, những khảo sát sau có thể được thực hiện tiếp:
    • Chụp CT bụng
    • Chụp X quang ngực
    • Chụp phóng xạ xương: có thể giúp loại trừ những bệnh tiến triển nặng di căn bên ngoài thành dạ dày.

Điều trị

Cách điều trị ung thư dạ dày phụ thuộc vào kết quả các khảo sát và tình trạng sức khỏe chung của bạn.

  • Nếu có bệnh tim mạch và bệnh phổi kèm theo, bạn không thể chịu đựng được một cuộc điều trị quá mạnh tay.
  • Trong nhiều trường hợp, ung thư dạ dày có thể đã phát triển đến mức không có phương pháp điều trị nào có tác dụng.
  • Bạn sẽ cần phải được phẫu thuật để trị khỏi bệnh này. Dạ dày của bạn sẽ được cắt bỏ hoàn toàn, và thực quản sẽ được nối với ruột non.
  • Phẫu thuật có thể làm giảm đi triệu chứng tắc nghẽn ở dạ dày. Đầu trên của dạ dày (nằm phía trên khối u) được nối với ruột non, tạo được một vòng nối không đi qua khi u để thức ăn có thể đi vào ruột non một cách dễ dàng.
  • Xạ trị hoặc hóa trị cũng có thể được thức hiện kết hợp với phẫu thuật để cải thiện khả năng sống còn của bạn.
  • Sau khi dạ dày được lấy đi, bác sĩ sẽ theo dõi bệnh của bạn bằng cách thực hiện lại CT scan bụng và nội soi ống tiêu hóa để chắc chn khi u không tái phát.

Phòng ngừa

  • T lệ ung thư dạ dày có thể giảm nếu:
    • Đời sống kinh tế xã hội được cải thiện.
    • Nên sử dụng tủ lạnh để bảo quản thức ăn.
    • Chế độ ăn giàu trái cây và rau.
  • Tại những vùng có nguy cơ ung thư cao như Nhật, nên thực hiện chụp dạ dày có cản quang và nội soi đường tiêu hóa trên định kỳ để có thể phát hiện sớm bệnh.
  • Điều trị Helicobacter pylory ở những bệnh nhân loét dạ dày tá tràng cũng có thể làm giảm nguy cơ ung thư.
  • Những bệnh nhân đã cắt một phần dạ dày cách đây từ 20 năm trở lên nên đi nội soi hằng năm do những người này bị gia tăng nguy cơ ung thư dạ dày sau những loại phẫu thuật như vậy.
  • Không có bằng chứng tán thành việc tầm soát rộng rãi trong nhóm những cư dân có nguy cơ bị ung thư dạ dày thấp.

Tiên lượng

Nếu bạn bị ung thư dạ dày, cơ hội phục hồi của bạn rất thấp. Tình trạng ung thư đã lan đến ổ bụng hay không là yếu tố chính yếu giúp xác định tiên lượng của bạn.

  • Thời gian sống còn lại trung bình thường thấp hơn 1 năm bất kể khối u ban đầu nằm ở vị trí nào. Không có cách điều trị nào hiện thời có khả năng cải thiện được khoảng thời gian sống còn này.
  • Những yếu tố cho biết bệnh nhân sẽ phục hồi kém bao gồm:
    • Sự hiện diện của ung thư trong các hạch bạch huyết.
    • Lan đến các cơ quan nằm ở xa.
    • Khối u nằm ở 1/3 trên của dạ dày.
  • Chỉ có một số ít người có những vấn đề trên sống được thêm 5 năm nữa.
  • Nếu ung thư được phát hiện ở giai đoạn sớm, cơ hội sống còn lâu dài của bạn sẽ vào khoảng 70%.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Monday, September 27, 2010

Thay đổi sợi bọc tuyến vú

Thay đổi sợi bọc tuyến vú

Thay đổi sợi bọc tuyến vú sẽ làm cho vú xuất hiện những u cục và nhạy cảm đau. Những thay đổi này thường xảy ra trong khoảng thời gian gần với chu kỳ kinh nguyệt. Thay đổi sợi bọc tuyến vú không phải là bệnh và chúng cũng không làm tăng nguy cơ bị ung thư.

Vú được tạo thành từ các tuyến, mô mỡ, và mô sợi. Mỗi vú có từ 15 đến 20 thùy. Mỗi thùy bao gồm nhiều tiểu thùy nhỏ hơn. Các tiểu thùy tận cùng bởi hàng tá những tuyến nhỏ có thể sản xuất ra sữa. Vú đáp ứng với những thay đổi trong nồng độ của các hormon progesteroneestrogen.
Thay đổi sợi bọc tuyến vú là lành tính. Nó là những mô cục, dày lên, và sưng xuất hiện bên trong vú. Những thay đổi này thường xảy ra ở độ tuổi sinh đẻ. Tuy nhiên thay đổi sợi bọc tuyến vú cũng có thể xảy ra sau tuổi mãn kinh.
Có thể một bên vú sẽ bị nhiều hơn bên còn lại. Những trường hợp xuất tiết dịch ở núm vú nên được các bác sĩ kiểm tra lại.
Nếu bạn bị thay đổi sợi bọc tuyến vú, bạn nên chú ý đến những cảm giác ở vú. Điều này sẽ giúp bạn phát hiện ra kịp thời nếu như có những sự thay đổi nào mới xuất hiện.
Mọi phụ nữ nên được khám vú hằng tháng. Biết được như thế nào là bình thường sẽ giúp bạn phát hiện ra được bất kỳ thay đổi nào ở vú có thể là tín hiệu báo động.
Cuối cùng, thay đổi sợi bọc tuyến vú là tình trạng rất thường gặp. Mô vú sẽ thay đổi khi nồng độ hormon trong cơ thể bạn thay đổi. Bạn nên chụp nhũ ảnh thường xuyên nếu bạn trên 40 tuổi hoặc đang có nguy cơ cao. Tự khám vú mỗi tháng. Những điều này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hai bầu vú của mình và biết được như thế nào là bình thường.

Theo
The American College of Obstetricians and Gynecologists - Y học NET dịch

Sunday, September 26, 2010

Thiếu men alpha-1 antitrypsin

Thiếu men alpha-1 antitrypsin

Bệnh thiếu men alpha-1 antitrypsin là một loại bệnh gây ra bởi sự suy giảm hoặc bất thường trong sản xuất một chất ức chế enzyme có tên là alpha-1 antitrypsin. Các mô cơ thể và máu bình thường có chứa một loại enzyme rất mạnh - được biết đến với cái tên protease (enzyme có chức năng phân hủy protein) - có khả năng tấn công những vật chất lạ bên trong cơ thể có thể gây tổn thương chẳng hạn như là khói thuốc lá.

Tuy nhiên, những enzyme protease này cần phải được điều hòa một cách cẩn thận, nếu không nó có thể tấn công và gây tổn thương cho cả những mô bình thường của cơ thể.
Máu và mô cơ thể có một chất ức chế enzyme protease có chức năng gắn kết với enzyme này để ngăn không cho chúng gây ra những hoạt động có hại. Chất ức chế protease thường thấy nhất trong máu là alpha-1 antitrypsin và vai trò của nó là bảo vệ mô cơ thể khỏi sự tấn công của protease.
Alpha-1 antitrypsin nằm trong nhóm các protein có chức năng tương tự nhau được gọi là chất ức chế serine proteinase (hoặc serpin). Những loại protein này đóng vai trò quan trọng trong các cơ chế kiểm soát viêm, đông máu và sữa chữa của cơ thể. Hầu hết các men alpha-1 antitrypsin trong cơ thể được gan sản xuất. Gan cũng có thể bị tổn thương do thiếu men alpha-1 antitrypsin giống như phổi.

Những người có nguy cơ
Bệnh thiếu men alpha-1 antitrypsin được cho là một trong những bệnh di truyền thường gặp nhất ở cộng đồng những người da trắng, ở cả 2 giới.
Bệnh này được phát hiện ra ở dọc theo Châu Âu nhưng tỷ lệ và loại bệnh rất thay đổi. Những thể nặng thường gặp nhất ở vùng ven biển phía Tây Bắc châu Âu bao gồm đảo Anh Quốc. Bệnh diễn ra ở trên 1/1600 người Scandinavia nhưng ít gặp hơn ở những dân tộc khác.

Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh thiếu men alpha-1 antitrypsin là một bệnh di truyền gây ra bởi thiếu gen ở nhiễm sắc thể 14. Gen là một chuỗi DNA chứa trong nhiễm sắc thể ở nhân tế bào.
Có trên 70 biến thể của alpha-1 antitrypsin khác nhau được xác định. Trong các xét nghiệm, men alpha-1 antitrypsin bình thường được ký hiệu là M.
Mỗi người đều có 2 nhiễm sắc thể 14 và của người bình thường là PiMM. Pi là ký hiệu của protease inhibitor (ức chế protease). Hai biến thể bất thường quan trọng nhất được gọi là S và Z. Cả hai đều là do sự biến đổi của gen alpha-1 antitrypsin.
Những người có hai trong số những gen bất thường trên có ký hiệu là PiSS hoặc PiZZ, hoặc PiSZ được gọi là đồng hợp tử. Hoặc họ có thể có 1 gen bất thường và 1 gen bình thường (chẳng hạn như PiMS hoặc PiMZ) được gọi là dị hợp tử. Cả hai nhóm người này đều có thể mang bệnh.
Gen Alpha-1 antitrypsin thuộc dạng đồng hợp tử trội (co-dominant), do đó, mỗi gen trong cặp sản xuất 50% alpha-1 antitrypsin. Nhưng gen PiZ chỉ sản xuất 10% alpha-1 antitrypsin so với gen PiM. Những người có gen PiZZ chỉ có 15-20% nồng độ alpha-1 antitrypsin bình thường trong máu dẫn đến tình trạng bệnh nặng. Những người có 1 gen PiZ và 1 gen PiM (PiMZ) có nồng độ alpha-1 antitrypsin trong khoảng 60% bình thường (50% từ M và 10% từ Z). Tình trạng này thường có khả năng phòng ngừa được.
Đối với những người mang cả 2 gen PiS (PiSS) thì bệnh ít nặng hơn với nồng độ alpha-1 antitrypsin trong khoảng 60-70% bình thường. Nó có thể gây biến chứng lên phổi nhưng thường không gây bệnh cho gan.

Diễn tiến của bệnh
Diễn tiến của bệnh phụ thuộc nhiều vào loại gen bất thường mà bệnh nhân có do nó ảnh hưởng đến số lượng và loại anpha-1 antitrypsin được sản xuất. Nhưng ngay cả những người có cùng một loại gen tương tự nhau thì biểu hiện của họ cũng khác nhau rất nhiều.
Bệnh biểu hiện chủ yếu ở phổi và gan:
  • Tại phổi, thiếu men alpha-1 antitrypsin sẽ gây bệnh khí phế thũng, một loại bệnh phối tiến triển mạn tính. Bệnh thường được nhận thấy ở những người trong độ tuổi từ 30-40 tuổi có hút thuốc và 10-15 năm sau đó ở những người không hút thuốc. Sau khoảng 15-20 năm, bệnh phổi sẽ dần dần dẫn đến suy hô hấp và tử vong.
  • Diễn tiến ở gan thậm chí còn khó dự đoán hơn. Thiếu men alpha-1 antitrypsin có thể gây vàng da và những bệnh về gan ở trẻ em trong vòng vài ngày sau khi sinh. Một vài trẻ có thể có diễn tiến bệnh nhan chóng, mặc dù những triệu chứng thường được cải thiện. Một số trẻ bị thiếu men alpha-1 antitrypsin bị bệnh gan nặng trước tuổi 20. Bệnh gan gây ra bởi thiếu men alpha-1 antitrypsin có thể chỉ xuất hiện ở người lớn. Nhưng ở một số ít người, ở cả những người bị PiZZ nặng, có thể gây xơ gan hay hóa sẹo ở gan.

Triệu chứng bệnh

Bệnh phổi

Thiếu men alpha-1 antitrypsin dẫn đến tổn thương phổi tiến triển do enzyme protease, đặc biệt là khi kết hợp với những yếu tố khác như hút thuốc.

Thiếu men alpha-1 antitrypsin có thể gây khí phế thũng, bệnh phổi tiển triển gây ra bởi sự thoái hóa nhu mô phổi và phì đại vĩnh viễn một cách bất thường của các phế nang. Những phế nang bất thường sẽ có số lượng chiếm ưu thế bên trong phổi. Những người bị bệnh, đặc biệt là ở những người hút thuốc, có thể sẽ cảm thấy thở hụt hơi và ho. Hiện tượng hụt hơi ban đầu chỉ xảy ra khi gắng sức nhưng sau đó có thể dẫn đến khó thở ngay cả khi nghỉ ngơi. Hiện tượng này có thể xảy ra trong vòng 15-20 năm, nhưng có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong.

Bệnh gan

Ở những người có gen PiZZ (có nguy cơ bị bệnh gan nặng), sự thiếu các phân tử alpha-1 antitrypsin có thể xuất hiện ở bên trong các tế bào gan và gây ra những hiệu ứng độc hại.

Bệnh gan ở trẻ em

Thiếu men alpha-1 antitrypsin là nguyên nhân di truyền thường gặp nhất của bệnh gan ở trẻ nhũ nhi và trẻ lớn. Dấu hiệu đầu tiên thường la vàng da, phân nhạt màu, chảy máu bất thường hoặc gan to cùng với những dấu hiệu không đặc hiệu khác của bệnh gan. Chúng được mô tả dưới cái tên "hội chứng viêm gan ở trẻ nhũ nhi" thường bắt đầu ở khoảng giữa ngày thứ 4 đến tháng thứ 6 sau khi sinh. Một số ít trẻ sẽ tiến triển nhanh thành suy gan và xơ gan.

Hầu hết những trẻ nhũ nhi sẽ cải thiện triệu chứng, vàng da nhạt dần và xét nghiệm chức năng gan sẽ trở về bình thường, do đó những biện pháp cấp cứu là không cần thiết. Ở những trẻ lớn hơn, thiếu men alpha-1 antitrypsin sẽ có thể dẫn đến những dấu hiệu của bệnh gan mạn tính và suy gan.

Một số trẻ có thể bị vàng da hoặc bệnh gan sau khi sinh. Những triệu chứng sẽ diễn ra giống nhau nếu bị những bệnh thuộc về gan: đau bụng, vàng da, ngứa, sưng phù mắt cá chân hoặc bụng, gan to hoặc lách to.

Ở những trường hợp nặng có thể chảy máu từ ruột, hoặc lơ mơ và hôn mê, có thể gây những biến chứng.

Bệnh gan ở người lớn

Những triệu chứng của bệnh gan ở người lớn do thiếu men alpha-1 antitrypsin tương tự với những trẻ lớn. Nhưng bệnh có thể sẽ không rõ ràng trong nhiều năm. Những triệu chứng tương tự với bất kỳ một tình trạng xơ gan nào: vàng da, phù nề bất thường, chảy máu từ ruột, và cuối cùng là hôn mê.

Thiếu men alpha-1 antitrypsin liên quan đến sự gia tăng nguy cơ bị carcinoma tế bào gan hoặc ung thư gan tiên phát. Triệu chứng ung thư có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh.

Chẩn đoán

Cũng như nhiều bệnh hiếm gặp khác, yếu tố quan trọng để chẩn đoán là dựa vào sự nhận định của bác sĩ.

Hiếm gặp bệnh gan ở trẻ em, do đó thiếu alpha-1 antitrypsin sẽ thường nảy ra trong đầu bác sĩ ở những trường hợp này. Nhưng nó có thể bị bỏ qua ở người lớn do có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh gan ở họ.

Cũng có nhiều ca có thể là không bao giờ được chẩn đoán ra. Ước đoán rằng chỉ có khoảng 5% người được xác định là có bệnh ở Anh. Tuy nhiên, bệnh thiếu men alpha-1 antitrypsin có thể được chẩn đoán tương đối dễ dàng bằng xét nghiệm máu đo mức alpha-1 antitrypsin. Bước kế tiếp là xác định chính xác loại alpha-1 antitrypsin nào. Điều này có thể được thực hiện bằng cách khám xét các tế bào được lấy qua sinh thiết bằng kính hiển vi.

Tầm soát gia đình

Tư vấn về di truyền đối với những gia đình có người bị bệnh này là cần thiết, cũng như là kiểm tra để xác nhận những người họ hàng có nguy cơ. Có thể chẩn đoán được trước sinh nhưng có thể không tiên đoán được độ nặng của bệnh trong tương lai.

Những khả năng khác

Ở trẻ em:

  • Bệnh gan ở trẻ em có thể do nhiễm trùng trong quá trình mang thai hoặc sau khi sinh gây ra viêm hoặc nhiễm trùng gan. Nó cũng có thể gây ra do thuốc, di truyền hoặc những bệnh gia đình - bao gồm cả thiếu men alpha-1 antitrypsin.
  • Những bất thường về di truyền khác bao gồm bất thường chuyển hóa đường hoặc amino-acid và xơ nang.
  • Tắc nghẽn ống mật cần phải được loại trừ ở trẻ nhũ nhi, vì bệnh nhân có thể cần phải phẫu thuật để điều trị.
  • Những bệnh gây đông máu làm bít tắc hệ mạch máu cung cấp cho gan cũng cần phải được kiểm tra ở những trẻ lớn hơn.

Ở người lớn

  • Khí phế thũng và bệnh phổi mạn tính ở người lớn thường liên quan đến hút thuốc là và những bệnh phổi ở thời đại công nghiệp. Chỉ có khoảng 1 - 2 % trường hợp khí phế thũng là do thiếu men alpha-1 antitrypsin.
  • Xơ gan và suy gan thường là do rượu, nhiễm trùng gan mạn tính, bệnh lý gan do tự miễn, và hiếm hơn là bệnh huyết sắc tố và bệnh Wilson.

Bác sĩ có thể làm được gì?

Bác sĩ tiêu hóa không chắc có thể chẩn đoán một cách toàn diện bệnh thiếu men alpha-1 antitrypsin.

Bệnh gan ở trẻ em thường hiếm gặp, do đó cần phải đi khám bệnh ngay nếu trẻ bị bệnh.

Lời khuyên

Điều đặc biệt quan trọng là bạn nên ngừng hút thuốc lại. Hút thuốc sẽ gia tăng đáng kể tổn thương phổi do thiếu men alpha-1 antitrypsin.

Điều trị

Cách điều trị tiêu chuẩn đối với khí phế thũng là thuốc hít và kháng sinh (có thể cần thiết để điều trị nhiễm trùng), ngoài ra còn có thể phải điều trị xơ gan và suy gan.

Nếu cách điều trị quy ước lâu dài không phòng ngừa được tiến triển mạn tính của bệnh ở gan hoặc phổi, có thể xem xét đến khả năng ghép tạng.

khí phế thũng giai đoạn cuối, việc ghép phổi đơn có thể là một lựa chọn. Thiếu men alpha-1 antitrypsin là bệnh di truyền gặp cần phải ghép gan nhiều nhất ở trẻ em. Nhưng có rất ít trẻ bị thiếu men alpha-1 antitrypsin đã từng cần phải ghép gan.

Những người được ghép tạng có tiên lượng tốt với tỷ lệ sống còn sau 1 năm là 90% và sau 5 năm là 80%. Kết quả ở người lớn không tốt bằng do những biến chứng của phổi kèm theo. Alpha-1 antitrypsin nhân tạo cũng đã được dùng và có thể có ích đối với bệnh phổi tuy nhiên lợi ích lâu dài của nó vẫn chưa được chắc chắn.

Tiên lượng

Tiên lượng đối với bệnh nhân bị bệnh này là tốt. Nhiều người thậm chí còn không biết họ bị bệnh. Những bệnh gan và phổi tiến triển chỉ xuất hiện ở một bộ phận thiểu số người nhưng có thể rất nghiêm trọng do đó người bệnh cần phải được kiểm tra, theo dõi thường xuyên.

Có thể kiểm tra chức năng gan bằng khám lâm sàng và xét nghiệm máu. Kiểm tra chức năng phổi bằng các nghiệm pháp hô hấp, x quang ngực và CT scan.

Theo Netdoctor.co.uk - Y học NET tổng hợp

Saturday, September 25, 2010

Hội chứng Marfan

Hội chứng Marfan

Hội chứng Marfan là một hội chứng di truyền ảnh hưởng đến mô liên kết. Chức năng chính của mô liên kết là giữ các thành phần của toàn bộ cơ thể lại với nhau và tạo ra một cái khung cho quá trình tăng trưởng và phát triển. Khi bị hội chứng Marfan, mô liên kết của cơ thể sẽ bị ảnh hưởng và không thực hiện được chức năng cần thiết của mình. Do mô liên kết xuất hiện ở khắp cơ thể nên hội chứng Marfan có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan bao gồm xương, mắt, tim và mạch máu, hệ thần kinh, da và phổi.

Hội chứng Marfan ảnh hưởng đến nam, nữ, trẻ em và xuất hiện ở mọi chủng tộc và các dân tộc khác nhau. Ước lượng có ít nhất 1/5000 người Mỹ bị hội chứng này.

Hội chứng Marfan có những tính chất gì?

Hội chứng Marfan ảnh hưởng đến mỗi người theo những cách khác nhau. Có người chỉ bị những triệu chứng nhẹ trong khi đó một số người khác lại bị ảnh hưởng rất nặng nề. Ở hầu hết các trường hợp, triệu chứng sẽ tiến triển theo tuổi. Những hệ cơ quan trong cơ thể thường bị ảnh hưởng bởi hội chứng Marfan bao gồm:

  • Xương - Những người bị hội chứng Marfan thường rất cao, mảnh khảnh và lỏng khớp. Do hội chứng Marfan có tác động đến xương dài của khung xương, nên cánh tay, cẳng chân, ngón tay, ngón chân có thể dài ra một cách bất tương xứng đối với phần còn lại của cơ thể. Một người bị hội chứng Marfan thường có khuôn mặt dài, hẹp và trần của miệng có thể cong làm cho răng mọc chồng lên nhau. Những bất thường khác của xương có thể là: xương ức có thể nhô ra hoặc lõm vào, vẹo cột sống, và mất độ cong của bàn chân.
  • Mắt - Có hơn phân nửa những người bị hội chứng Marfan bị lệch thủy tinh thể ở một hoặc 2 mắt. Thủy tinh thể có thể hơi cao hơn hoặc thấp hơn bình thường và có thể lệch về một phía. Có thể lệch nhẹ hoặc lệch rõ ràng, dễ nhận thất. Tách võng mạc là một biến chứng nghiêm trọng của bệnh này. Nhiều người bị hội chứng Marfan bị cận thị và một số người có thể bị tăng nhãn áp sớm (áp lực bên trong mắt tăng cao) hoặc bị đục thủy tinh thể (thủy tinh thể không còn trong như bình thường nữa).
  • Tim và mạch máu - hầu hết những người bị hội chứng Marfan có những bất thường liên quan đến tim mạch. Do mô liên kết bị khiếm khuyết nên thành động mạch chủ (một động mạch lớn mang máu từ tim đến toàn bộ phần còn lại cơ thể) có thể yếu và dãn, tình trạng này được gọi là dãn động mạch chủ. Động mạch chủ dãn làm gia tăng nguy cơ bị rách (bóc tách động mạch chủ) hoặc vỡ, gây tai biến về tim mạch nặng nề và đôi khi có thể gây đột tử. Đôi khi, khiếm khuyết ở các lá van cũng có thể gây nên vấn đề. Ở một số trường hợp, một số van có thể rò rỉ gây ra những âm thổi mà bác sĩ có thể nghe được bằng ống nghe. Lỗ rò nhỏ có thể không gây ra triệu chứng nào, nhưng lỗ rò lớn có thể gây khó thở, mệt mỏi và đánh trống ngực (tim đập rất nhanh và không đều).
  • Hệ thần kinh - Não và tủy sống được bao quanh bởi dịch chứa trong màng cứng, màng cứng có cấu tạo từ mô liên kết. Khi những người bị hội chứng Marfan già đi, màng cứng thường trở nên yếu và dãn, sau đó nó sẽ bắt đầu đè lên các đốt sống ở phía dưới thấp và bào mòn xương bao quanh tủy sống. Tình trạng này được gọi là phình màng cứng. Những thay đổi này có thể chỉ gây khó chịu nhẹ hoặc có thể gây đau lan tỏa ở bụng hoặc đau, tê hoặc yếu chân.
  • Da - Nhiều người bị hội chứng Marfan đôi khi xuất hiện những đường vân trên da (dãn da) ngay cả khi không có sự thay đổi trọng lượng nào. Những đường vân này có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi nào và không gây nguy cơ gì cho sức khỏe. Tuy nhiên những người bị hội chứng Marfan cũng có thể gia tăng nguy cơ thoát vị bụng hoặc thoát vị bẹn là những khối phình có chứa một phần của ruột.
  • Phổi - Mặc dù bất thường mô liên kết có thể tạo ra những túi khí nhỏ bên trong phổi làm nó kém đàn hồi đi nhưng những người bị hội chứng Marfan thường không cảm thấy những triệu chứng gây khó chịu ở phổi. Tuy nhiên nếu như những túi khí nhỏ này trở nên dãn hoặc phồng lên, nguy cơ xẹp phổi có thể gia tăng. Hiếm hơn, những người bị hội chứng Marfan có thể bị rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ như ngủ ngáy hay ngưng thở lúc ngủ (một kiểu rối loạn giấc ngủ mà người bị rối loạn này có những khoảng thời gian ngắn ngừng thở trong khi ngủ).

Nguyên nhân của hội chứng Marfan là gì?

Hội chứng Marfan có nguyên nhân là do khiếm khuyết ở gen quy định cấu trúc fibrin, một loại protein đóng vai trò quan trọng trong mô liên kết. Bệnh nhân bị hội chứng Marfan ngay từ khi mới sinh ra ngay cả khi nó không được phát hiện ra mãi cho đến lúc lớn hơn. Mặc dù tất cả mọi người bị hội chứng này đều có khiếm khuyết ở cùng một gen nhưng những sự thay đổi trên cơ thể là khác nhau ở mỗi gia đình và không phải tất cả mọi người đều bị cùng một triệu chứng và cùng một mức độ. Đây được gọi là những biến thể, có nghĩa là gen bị khiếm khuyết thể hiện ra bên ngoài theo những cách khác nhau ở những người khác nhau. Hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa hiểu được tại sao lại có những biến thể như vậy trên những người bị hội chứng Marfan.

Gen bị khiếm khuyết có tính chất di truyền: con của một người bị hội chứng Marfan có 50% nguy cơ bị di truyền bệnh này. Đôi khi sự khiếm khuyết mới xuất hiện trong quá trình hình thành phôi hoặc các tế bào trứng, nhưng 2 vợ chồng không bị hội chứng Marfan chỉ có khoảng 1/10.000 khả năng có con bị hội chứng này. Có khoảng 25% trường hợp bị khiếm khuyết gen vào thời điểm thụ thai.

Chẩn đoán

Không có một xét nghiệm cận lâm sàng chuyên biệt nào, chẳng hạn như xét nghiệm máu hoặc sinh thiết da, được dùng để chẩn đoán hội chứng Marfan. Các bác sĩ sẽ chẩn đoán dựa vào quan sát và bệnh sử đầy đủ, bao gồm:

  • Thông tin về các thành viên trong gia đình có thể bị bệnh hoặc chết lúc còn trẻ do nguyên nhân tim mạch không giải thích được.
  • Thăm khám đầy đủ bao gồm đánh giá khung xương và đo tỷ lệ giữa kích thước tay hoặc chân với kích thước thân người.
  • Khám mắt bao gồm cả khám bằng đèn.
  • Khám tim có bao gồm cả siêu âm tim (dùng để kiểm tra tim và động mạch chủ).

Bác sĩ cũng có thể chẩn đoán hội chứng Marfan nếu bệnh nhân có tiền sử gia đình bị bệnh này và gặp vấn đề ở ít nhất 2 hệ cơ quan của cơ thể đã được y văn ghi nhận là có thể bị ảnh hưởng. Đối với những người không có tiền sử gia đình bị bệnh, phải có ít nhất 3 hệ cơ quan bị ảnh hưởng trước khi có thể thiết lập dược chẩn đoán. Ngoài ra, 2 trong số các hệ trên phải có dấu hiệu rõ ràng về sự liên quan đến hội chứng Marfan.

Ở một số trường hợp, phân tích gen có thể hữu ích tuy nhiên những phân tích như thế này thường tốn nhiều thời gian và có thể không cung cấp thêm thông tin gì hữu ích. Những thành viên trong gia đình người bị hội chứng Marfan không nên tự kết luận rằng mình không bị bệnh nếu như không biết rõ bệnh có tồn tại ở thế hệ trước của gia đình hay không. Sau khi chẩn đoán trên lâm sàng những thành viên gia đình, nghiên cứu về gen có thể xác định được kiểu khiếm khuyết nào để có thể thực hiện test xác định xem những thành viên khác trong gia đình có bị bệnh hay không.

Bệnh nhân bị hội chứng Marfan cần được điều trị bởi những chuyên khoa nào?

Do hội chứng Marfan ảnh hưởng đến nhiều hệ trên cơ thể nên những người bị hội chứng này có thể phải cần đến sự chăm sóc của nhiều bác sĩ ở các chuyên khoa khác nhau. Bác sĩ tổng quát hoặc bác sĩ nhi khoa có thể khám sức khỏe tổng quát và chuyển bệnh nhân sang các chuyên khoa khác như tim mạch, cơ xương khớp, mắt. Một số người cũng có thể được điều trị bởi các chuyên gia di truyền học.

Những lựa chọn điều trị

Không có cách chữa cho hội chứng Marfan. Để tìm ra cách, các nhà khoa học phải xác định và thay đổi chính xác gen chịu trách nhiệm gây ra bệnh trước khi sinh. Tuy nhiên, có nhiều cách điều trị có thể làm giảm thiểu và đôi khi ngăn ngừa biến chứng. Những bác sĩ chuyên khoa thích hợp sẽ đưa ra những chương trình điều trị khác nhau, cách tiếp cận của bác sĩ sẽ tùy thuộc vào hệ cơ quan nào bị ảnh hưởng.

  • Xương - cần phải đánh giá lại hằng năm để phát hiện ra bất kỳ thay đổi nào ở cột sống hoặc xương ức. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cơ thể phát triển nhanh, chẳng hạn như ở tuổi dậy thì. Những thoái biến nghiêm trọng có thể không chỉ làm xấu xí vẻ ngoài mà còn ngăn không cho tim và phổi thực hiện chức năng bình thường của mình. Ở một số trường hợp có thể phải đặt trụ chỉnh hình hoặc phẫu thuật để hạn chế tổn thương và thay đổi hình dạng.
  • Mắt - Kiếm tra mắt sớm và thường xuyên là cách để giữ và sửa chữa những vấn đề về thị giác có liên quan đến hôi chứng Marfan. Ở hầu hết các trường hợp, có thể dùng kính hoặc kính sát tròng để giải quyết vấn đề nhưng có một số trường hợp khác có thể cần phải giải quyết bằng phẫu thuật.
  • Tim và các mạch máu - Thường xuyên kiểm tra và đi siêu âm tim có thể giúp bác sĩ đánh giá được kích thước động mạch chủ và sự làm việc của tim. Những nguy cơ tiềm ẩn càng được xác định và điều trị sớm chừng nào thì nguy cơ xảy ra những biến chứng đe dọa mạng sống càng thấp chừng đó. Những người có vấn đề tim mạch được khuyên đến ngay phòng cấp cứu nếu bị đau ngực, lưng hoặc đau bụng. Một số bệnh van tim có thể kiểm soát được bằng thuốc chẳng hạn như chẹn beta, có thể giúp làm giảm áp lực lên động mạch chủ. Ở một số trường hợp, cần phải phẫu thuật để thay thế van hay chỉnh sửa lại động mạch chủ. Cần phải phẫu thuật trước khi động mạch chủ lớn đến mức giới hạn gây nguy cơ bị rách hoặc vỡ cao. Sau khi phẫu thuật tim, những trường hợp nặng cần phải theo dõi để phòng ngừa viêm màng trong tim (viêm lớp niêm mạc lát phía trong các khoang của tim và các van tim). Cần phải báo cho các nha sĩ về nguy cơ này, bệnh nhân cần phải được cho uống những loại thuốc bảo vệ trước khi thực hiện những thủ thuật trên răng bệnh nhân.
  • Hệ thần kinh - nếu bị phình màng cứng cần phải cho thuốc để giảm đau.
  • Phổi - Điều đặc biệt quan trọng là những người bị hội chứng Marfan không được hút thuốc vì tự chính bản thân họ đã bị gia tăng nguy cơ tổn thương phổi rồi. Nếu gặp bất kỳ vấn đề nào về hô hấp trong lúc ngủ đều cần phải đi khám bệnh.

Mang thai là một mối quan tâm đặc biệt quan trọng đối với hội chứng này vì nó tạo ra một tình trạng stress lên cơ thể, đặc biệt là tim. Thai kỳ cần được đặt dưới sự theo dõi trong một tình trạng đặc biệt bởi bác sĩ sản khoa và những bác sỹ chuyên khoa khác có liên quan đến hội chứng Marfan và được theo dõi như là một tình trạng nguy cơ cao.

Ăn uống với một chế độ dinh dưỡng cân bằng là rất quan trong để giữ được một cuộc sống khỏe mạnh, những thực phẩm chức năng hoặc vitamin không được chứng minh là có khả năng làm chậm lại, chữa khỏi hoặc ngăn ngừa hội chứng Marfan.

Những tác động về cảm xúc và tâm lý của hội chứng Marfan

Bị chẩn đoán và buộc phải sống với một bất thường về di truyền có thể gây ra stress về xã hội, cảm xúc và tài chính. Thường cần phải có một sự cố gắng lớn mới có thể điều chỉnh được cách nhìn và lối sống. Một người trưởng thành khi bị chẩn đoán là bị hội chứng Marfan có thể cảm thấy tức giận hoặc sợ hãi. Ngoài ra cũng còn có những mối lo lắng về việc bệnh có thể truyền lại cho những thế hệ sau hoặc những sự ảnh hưởng về mặt thể lực, cảm xúc hoặc tài chính.

Cha mẹ và những anh chị em của đứa trẻ bị chẩn đoán bị hội chứng Marfan có thể cảm thấy buồn, giận dữ và tội lỗi. Điều quan trọng đối với cha mẹ là họ cần phải biết rằng họ không làm gì để dẫn đến hậu quả là khiếm khuyết gen fibrin cả. Các bậc cha mẹ có thể lo lắng về những ảnh hưởng di truyền đến anh chị em đứa trẻ bị bệnh và có những thắc mắc về nguy cơ mắc bệnh của đứa con kế tiếp. Một số trẻ bị hội chứng Marfan được khuyên là nên hạn chế hoạt động, để thực hiện điều này cần phải điều chỉnh cách sinh hoạt vốn có thể rất khó cho trẻ có thể hiểu và chấp nhận được chuyện đó.

Đối với cả trẻ em và người lớn, chăm sóc y tế phù hợp, thông tin chính xác và sự hỗ trợ của cộng đồng là chìa khóa để có thể chung sống hòa bình với bệnh. Có thể tham khảo ý kiến các chuyên gia về di truyền để hiểu rõ hơn về bệnh và những nguy cơ tiềm tàng của nó đối với thế hệ sau.

Tiên lượng của người bị hội chứng Marfan

Tuy hội chứng Marfan là một bệnh kéo dài suốt đời nhưng tiên lượng của nó cải thiện dần trong những năm gần đây. Được chẩn đoán sớm và những tiến bộ trong các kỹ thuật y học đã cải thiện được chất lượng sống của những người bị hội chứng Marfan và kéo dài cuộc sống của họ hơn. Ngoài ra, phát hiện sớm những yếu tố nguy cơ (chẳng hạn như dãn động mạch chủ) cho phép các bác sĩ có thể can thiệp và phòng ngừa hoặc làm chậm lại các biến chứng. Những tiến bộ được các nhà nghiên cứu thực hiện đã cho chúng ta nhiều hy vọng hơn trong tương lai. Nếu được chẩn đoán sớm và kiểm soát tốt, triển vọng sống của một người bị hội chứng Marfan tương tự như một người trung bình.

Những nghiên cứu nào đang được thực hiện để giúp những người bị hội chứng Marfan?

Các nhà khoa học tiếp cận nghiên cứu hội chứng Marfan dựa trên nhiều viễn cảnh khác nhau. Một trong số những cách tiếp cần là tìm hiểu xem điều gì sẽ xảy ra một khi gen bị ảnh hưởng hay sự hư hỏng gen xảy ra. Nó thay đổi sự phát triển và chức năng của các mô liên kết trong cơ thể như thế nào? Tại sao những người bị hội chứng Marfan lại bị ảnh hưởng theo những cách khác nhau? Các nhà khao học tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi trên bằng cách nghiên cứu gen và nghiên cứu trên một nhóm lớn các gia đình bị ảnh hưởng bởi bệnh. Những con chuột mang gen fibrin bị khiếm khuyết có thể giúp các nhà khoa học hiểu về bệnh này rõ hơn. Những nghiên cứu trên động vật là bước chuẩn bị cho liệu pháp điều trị bằng di truyền cũng đang được tiến hành.

Các nhà khoa học khác thì lại tập trung theo hướng điều trị một số biến chứng xuất hiện ở những người bị hội chứng Marfan. Những nghiên cứu lâm sàng được tiến hành để đánh giá mức độ hữu dụng của một số loại thuốc trong việc ngăn ngừa hoặc làm giảm những vấn đề của động mạch chủ. Các nhà nghiên cứu cũng đang làm việc để phát triển một cách phẫu thuật mới để giúp cải thiện sức khỏe của tim trên những người bị hội chứng Marfan.

Tóm tắt

  • Hội chứng Marfan là một bệnh của mô liên kết có tính chất di truyền.
  • Bệnh gây ra bởi sự khiếm khuyết trên gen sản xuất ra thành phần protein của mô liên kết.
  • Hội chứng Marfan có thể ảnh hưởng đến xương, mắt, tim, mạch máu, hệ thần kinh, da, và phổi.
  • Không có xét nghiệm chuyên biệt cho hội chứng Marfan.
  • Không có cách chữa khỏi hẳn cho hội chứng Marfan.
  • Cách điều trị phụ thuộc vào hệ cơ quan nào bị ảnh hưởng.

Theo MedicineNET - Y học NET dịch

Friday, September 24, 2010

Viêm họng

Viêm  họng
Viêm họng là thuật ngữ y học chỉ tình trạng viêm và sưng của cuống họng. Hầu hết những nguyên nhân của viêm họng (như nhiễm virus thong thường hoặc sử dụng giọng nói quá mức) đều không nghiêm trọng. Tuy nhiên trong một ít nguyên nhân khác có thể cần phải can thiệp chuyên môn.

NGUYÊN NHÂN

Viêm họng thường là do virus hoặc do sử dụng giọng nói quá mức. Đôi khi có thể nguyên nhân của viêm họng là do vi trùng và hiếm hơn nữa là do các nhiễm trùng như lao, giang mai hoặc nhiễm nấm. Nếu bị viêm họng kéo dài, bạn nên đến gặp bác sĩ để kiểm tra xem có khối u hay không, đôi khi có thể chúng đã bị ung thư hóa. Những người hút thuốc có nguy cơ bị ung thư cao.

TRIỆU CHỨNG

· Những triệu chứng thường gặp của viêm họng

o Khàn tiếng

o Cảm giác ngứa ở cổ họng

o Cảm giác thôi thúc muốn làm sạch cổ họng (muốn khạc, nhổ chất tiết ra ngoài)

o Sốt

o Ho

o Sung huyết

· Thường viêm họng sẽ tiến triển đến đau họng sau một vài ngày

KHI NÀO CẦN ĐẾN SỰ CAN THIỆP Y KHOA
Gọi bác sĩ

· Đôi khi viêm họng có thể tiến triển nặng hơn. Nếu gặp một số triệu chứng sau, bạn nên đến gặp bác sĩ:

o Sốt cao kèm với đau họng

o Ho ra đàm vàng hoặc xanh

o Ho ra máu

o Không thể uống nước được

o Có tiền sử bị bệnh về họng và hô hấp

o Triệu chứng kéo dài trong 2 đến 3 tuần ngay cả khi bạn ít sử dụng giọng nói hơn.

· Trẻ em thì khác với người lớn vì chúng dễ bị nhiễm trùng bởi một số loại siêu vi

o Nếu bé chỉ bị khàn tiếng, kèm hoặc không kèm với những triệu chứng nhiễm virus khác như sốt nhẹ (nhỏ hơn 38°C), chảy mũi, đau cơ, ho, hoặc nghẹt mũi thì điều trị cũng tương tự như người lớn.

o Nếu bé bị sốt, đau họng, không ăn hoặc uống, số tã bị ướt ít hơn (chứng tỏ bé uống ít nước hơn), bạn nên đưa bé đến bác sĩ để khám.

Đến bệnh viện

· Trong một số trường hợp có thể đe dọa mạng sống và bạn không được trì hoãn. Hãy đi đến phòng cấp cứu nếu có một trong số những triệu chứng sau:

o Khó thở

o Cảm giác như cổ họng bị đóng lại

o Không nuốt được

o Chảy nước dãi

o Phải ngồi thẳng để thở

· Nếu bé bị chảy dãi (nhiều hơn bình thường), có tiếng rít trong cổ họng khi thở, hoặc thở khó thì bạn nên đưa bé đến bệnh viện.

LÂM SÀNG & CẬN LÂM SÀNG

Thường thì bạn có thể được đánh giá một cách đầy đủ chỉ bằng những bước hỏi bệnh và thăm khám hoàn chỉnh.

o Bác sĩ sẽ chú ý đặc biệt đến tai, mũi, họng và cổ

o Nếu triệu chứng nặng nề, đặc biệt là ở trẻ em, bác sĩ có thể yêu cầu bạn chụp X-quang vùng cổ và ngực.

o Bác sĩ cũng có thể nhìn vào họng của bạn bằng 1 cái đèn soi nhỏ và sáng. Nó sẽ được đưa vào mũi bạn sau khi bạn được gây tê vùng mũi. Thủ thuật này chỉ kéo dài khoảng vài phút và có thể cho nhiều thong tin quan trọng.

o Đôi khi ở trẻ em, người lớn thì hiếm gặp hơn, bác sĩ có thể cho thử công thức máu.

ĐIỀU TRỊ
Tại nhà

Nếu như những triệu chứng trên xuất hiện trong vòng vài ngày hoặc xảy ra ngay sau khi bạn sử dụng giọng nói nhiều hơn bình thường thì cách điều trị chính là để giọng nói của mình nghỉ ngơi tối đa trong mức có thể.

  • Nếu bạn có những triệu chứng của nhiễm virus, chẳng hạn như sốt nhẹ, ho, nghẹt mũi, chảy mũi, đau cơ, cảm giác kiệt sức, bạn nên uống nhiều nước, uống acetaminophen (Tylenol, Panadol) hoặc ibuprofen (Advil, Motrin).
  • Nhiều người phát hiện ra rằng xông hơi, chẳng hạn như từ nước nóng hoặc vòi sen, hoặc sương ẩm có thể làm họ cảm thấy khá hơn.
  • Trong tất cả các trường hợp, bạn nên tránh hút thuốc và tránh xa khu vực những người có hút thuốc.
Tại phòng mạch hay bệnh viện

· Sau khi khám cẩn thận, bác sĩ sẽ quyết định phương thức điều trị

o Trong hầu hết trường hợp, bác sĩ sẽ tư vấn bạn những cách tự chăm sóc tại nhà và có thể tiêm steroid hoặc kê toa.

o Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị nhiễm vi trùng, ông ta/cô ta sẽ cho bạn sử dụng một đợt điều trị kháng sinh.

o Đôi khi bác sĩ có thể sẽ giữ bạn lại tại phòng mạch hoặc phòng cấp cứu một khoảng thời gian ngắn để theo dõi phòng trường hợp bệnh có thể sẽ diễn tiến xấu đi một cách nhanh chóng.

· Nếu bạn có bất kỳ một dấu hiệu hoặc triệu chứng nào về hô hấp hoặc bạn nghĩ đường thở của bạn bị sưng và đóng lại thì bạn sẽ được đề nghị đến bệnh viện.

o Ở những trường hợp cấp cứu, xuất hiện nhiều ở trẻ em hơn là so với người lớn, rất nguy hiểm khi cổ họng bị sưng và đóng lại.

o Có thể sẽ cần phải đặt 1 ống vào trong họng để có thể thở được dễ dàng (đặt nội khí quản).

o Bạn sẽ được đặt máy giúp thở.

o Trong trường hợp này, bạn sẽ được tiêm tĩnh mạch kháng sinh và có thể là steroid.

THEO DÕI
  • Nếu bạn được kê toa, bạn cần phải mua thuốc và uống ngay lập tức theo chỉ dẫn. Để có thể điều trị được thích hợp và ngăn ngừa tái phát, bạn không nên ngưng điều trị giữa chừng ngay sau khi cảm thấy khỏe hơn.
  • Bạn nên sử dụng giọng nói càng ít càng tốt và tránh hút thuốc.
  • Luôn luôn báo bác sĩ nếu như các triệu chứng của bạn trở nên xấu đi hoặc bị sốt cao.
  • Nếu bạn bị khó thở hoặc có cảm giác cổ họng đóng lại, bạn nên đến phòng cấp cứu hoặc gọi điện thoại cấp cứu.
PHÒNG NGỪA

Vì hầu hết các trường hợp viêm họng là do virus, do đó cách phòng ngừa tốt nhất là bảo đảm rửa tay thường xuyên, đặc biệt là trước khi đưa tay lên mặt. Kể cả khi cố gắng như vậy, cũng giống như cảm cúm, ta không thể ngăn ngừa tất cả các nguy cơ được. Đối với trẻ em, việc tiêm ngừa vaccine Haemophilus influenza là rất quan trọng để bảo vệ chúng khỏi những nhiễm trùng có thể ảnh hưởng đến mạng sống. Ngoài ra, cần chú ý không sử giọng nói quá mức.

Viêm họng mạn tính cũng rất đáng quan tâm. Nếu bạn bị thay đổi giọng nói hoặc khàn tiếng kéo dài hơn 2 – 3 tuần, bạn nên đến gặp bác sĩ. Sự thay đổi giọng nói kéo dài này có thể gây ra bởi những nguyên nhân có thể điều trị được dễ dàng như trào ngược acid dịch vị hoặc tiếp xúc với chất gây kích thích dây thanh âm. Tuy nhiên nó cũng là dấu hiệu đầu tiên của một bệnh nặng, như khối u ở thanh quản và cần phải có sự can thiệp của y học.

(dịch từ Emedicinehealth)

Y học NET

Thursday, September 23, 2010

Viêm xoang

Viêm xoang

Bệnh viêm xoang là tình trạng viêm của xoang và mũi. Viêm xoang có thể gây đau đầu hoặc nặng ở mắt, mũi, vùng má hoặc ở một bên đầu. Bệnh nhân viêm xoang cũng có thể ho, sốt, thở hôi, nghẹt mũi kèm với nước mũi đặc. Viêm xoang được chia ra làm 2 loại: cấp tính (xuất hiện đột ngột) và mạn tính (kéo dài, là loại thường gặp nhất).

Giải phẫu học của xoang (còn được gọi là các xoang cạnh mũi): hộp sọ của người chứa 4 cặp khoang rỗng chứa khí được gọi là các xoang, chúng thông nối với khoảng không nằm giữa 2 lỗ mũi và thành mũi. Xoang giúp bảo vệ hộp sọ, giảm trọng lượng hộp sọ và cho phép âm thanh cộng hưởng bên trong chúng. Có 4 cặp xoang chính bao gồm:

  • Xoang trán (nằm ở trán)
  • Xoang hàm (nằm phía sau xương gò má)
  • Xoang sàng (giữa 2 mắt)
  • Xoang bướm (phía sau 2 mắt)
Giải phẫu xoang
Giải phẫu xoang

Các xoang chứa những tác nhân phòng vệ chống lại sự xâm nhập của virus và vi khuẩn lạ. Nếu cơ chế phòng vệ bình thường này bị hủy hoại, các vi khuẩn khi bình thường nằm bên trong hốc mũi có thể đi vào xoang. Khi đó, các vi khuẩn này sẽ bám vào những tế bào niêm mạc và gây ra viêm xoang.

Viêm xoang cấp thường kéo dài dưới 8 tuần hoặc xuất hiện ít hơn 3 lần mỗi năm và mỗi lần ít hơn 10 ngày. Thường có thể điều trị hiệu quả viêm xoang cấp bằng cách uống thuốc. Điều trị hiệu quả là khi giải quyết được các thương tổn ở lớp niêm mạc xoang và các xương xung quanh thuộc hộp sọ.

Viêm xoang mạn tính kéo dài hơn 8 tuần và xuất hiện nhiều hơn 4 lần mỗi năm với triệu chứng thường kéo dài hơn 20 ngày mỗi lần.

Bề mặt các xoang được bao phủ bởi một lớp màng nhầy và các tế bào có những lông nhỏ ở bề mặt (lông chuyển). Các lông này giúp bắt giữ vi khuẩn và những chất ô nhiễm bên ngoài khi chúng xâm nhập vào mũi.


NGUYÊN NHÂN

Viêm xoang cấp thường xuất hiện sau một đợt nhiễm virus của đường hô hấp trên, tuy nhiên những chất gây dị ứng (dị nguyên) hoặc chất ô nhiễm cũng có thể gây viêm xoang cấp. Các virus làm hủy hoại các tế bào của lớp niêm mạc xoang gây viêm. Lớp niêm mạc dày lên làm tắc nghẽn hốc mũi. Hốc mũi nối với các xoang do đó sự tắc nghẽn này ngăn chạn quá trị loại bỏ những vi khuẩn bình thường vẫn nằm trong hốc mũi, vi khuẩn bắt đầu nhân lên và xâm lấn lớp niêm mạc xoang. Hiện tượng này gây ra những triệu chứng của viêm xoang. Các dị nguyên và những chất ô nhiễm cũng tạo ra hiện tượng tương tự.

Vi khuẩn thường gây ra viêm xoang cấp là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae và Moraxella catarrhalis. Những vi khuẩn kể trên cùng với Staphylococcus aureus và một số loại vi khuẩn kỵ khí khác (vi khuẩn sống ở môi trường không có oxy) là những tác nhân gây viêm xoang mạn.

Nấm cũng có thể trở thành nguyên nhân cộng thêm của viêm xoang mạn, đặc biệt là ở những người bị những bệnh làm suy yếu hệ miễn dịch như AIDS, bệnh bạch cầu và đái tháo đường.


TRIỆU CHỨNG

Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm xoang tùy thuộc vào xoang nào bị ảnh hưởng và đó là viêm xoang cấp hay mạn tính.

Cấp tính:

  • Xoang sàng (phía sau mắt)
    • Nghẹt mũi kèm với chảy nước mũi trước hoặc sau (nước mũi nhỏ xuống thành họng ngay phía sau lỗ mũi).
    • Cảm giác đau hoặc nặng xung quanh góc trong của mắt hoặc đi xuống một bên mũi.
    • Nhức đầu ở thái dương hoặc xung quanh mắt
    • Cảm giác đau và nặng sẽ nặng hơn khi ho, căng thẳng, hoặc nằm ngửa và giảm bớt khi đầu giữ ở tư thế thẳng
    • Thường có sốt
  • Xoang hàm (phía sau xương gò má)
    • Đau dọc theo xương gò má, phía dưới và xung quanh mắt hoặc xung quanh răng hàm trên.
    • Đau hoặc nặng ở một bên hay cả 2 bên
    • Gò má căng, đỏ hoặc sưng
    • Triệu chứng đau và nặng sẽ nặng hơn khi đầu ở tư thể thẳng và cúi ra trước, giảm bớt khi tựa đầu ra sau
    • Chảy nước mũi trước hoặc sau
    • Thường có sốt
  • Xoang trán (phía sau trán, 1 hoặc 2 bên)
    • Nhức đầu nặng ở vùng trán
    • Thường có sốt
    • Đau nặng hơn khi tựa đầu ra sau và cải thiện khi đầu thẳng
    • Chảy nước mũi trước hoặc sau
  • Xoang bướm (phía sau mắt)
    • Nhức sâu bên trong đầu ở phía sau và vùng đỉnh đầu, ngang qua trán và phía sau mắt
    • Thường có sốt
    • Đau nặng hơn khi nằm ngửa hoặc cúi ra trước
    • Nhìn đôi hoặc nhìn mờ nếu áp lực tác động lên não
    • Chảy nước mũi trước hoặc sau

Mạn tính

  • Xoang sàng
    • Chảy nước mũi kéo dài, nghẹt và khó chịu nhẹ dọc theo sống mũi
    • Đau nặng hơn vào xế trưa hoặc khi mang mắt kính
    • Đau họng mạn tính và thở hôi
  • Xoang hàm
    • Khó chịu hoặc nặng ở vùng sau mắt
    • Đau răng kéo dài
    • Có thể đau nặng hơn khi cảm cúm hoặc dị ứng
    • Sự khó chịu tăng lên trong ngày kèm với ho nhiều hơn vào buổi tối
  • Xoang trán
    • Nhức đầu nhẹ, kéo dài ở vùng trán
    • Đã bị chấn thương hoặc tổn thương ở khu vực xoang trước đây
  • Xoang bướm

KHI NÀO CẦN ĐẾN GẶP BÁC SĨ

Hãy gọi cho bác sĩ khi cảm thấy đau hay nặng ở phần trên mặt kèm với nghẹt mũi hoặc chảy nước mũi trước hay sau, hoặc thở hôi nhưng không bị bệnh lý về nha.

Sốt có thể là triệu chứng của viêm xoang nhưng cũng có thể là triệu chứng của cảm cúm. Nghẹt mũi kèm với sốt nhẹ có thể gợi ý tình trạng cảm cúm và không cần thiết phải uống thuốc hay kháng sinh. Những người bị đau vùng mặc hoặc nhức đầu kèm theo những triệu chứng trên thì có thể bị viêm xoang.

Bác sĩ thường có thể điều trị những dạng viêm xoang đơn giản. Nếu không được chẩn đoán và điều trị, các biến chứng có thể xảy ra làm tiến triển nặng hơn, có thể dẫn đến tử vong. Những biến chứng sau là những trường hợp cấp cứu và cần phải được điều trị ngay lập tức ở khoa cấp cứu của bệnh viện:

  • Nhức đầu, sốt, và sưng mô mềm phía trước xoang trán có thể gợi ý một tình trạng viêm xoang trán, được gọi là u Pott hoặc viêm tủy xương. Thông thường thì biến chứng này chỉ gặp ở trẻ em.
  • Nhiễm trùng hốc mắt có thể là kết quả của viêm xoang sàng. Mí mắt có thể sưng và rũ xuống. Ít khi thấy sốt hoặc mệt mỏi nhiều. Bệnh nhân bị viêm xoang dạng này có thể mất khả năng cử động mắt và có thể bị mù vĩnh viễn.
  • Viêm xoang trán hoặc xoang sàng có thể gây hình thành cục máu đông ở xoang xung quanh vùng trước và đỉnh của mặt. Các triệu chứng có thể tương tự với nhiễm trùng hốc mắt kèm với triệu chứng đồng tử bị bất động và giãn. Thường ảnh hưởng đến cả 2 bên mặt.
  • Nếu bệnh nhân bị thay đổi tính tình nhẹ, nhức đầu, cứng cổ, sốt cao, mất tập trung, rối loạn thị lực, hoặc ngất, nhiễm trùng có thể lan lên đến não dẫn đến hôn mê hoặc thậm chí sau đó có thể là tử vong.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Chẩn đoán viêm xoang thường dựa theo bệnh sử và khám lâm sàng. Việc phân biệt xác đáng giữa viêm xoang với một trường hợp nhiễm trùng thông thường ở đường hô hấp trên hoặc cảm cúm là rất quan trọng.

Viêm xoang thường được gây ra bởi vi trùng và cần phải sử dụng kháng sinh để điều trị. Viêm xoang cũng có thể gây ra bởi virus (điều đó có nghĩa là kháng sinh sẽ không giúp ich được gì cả). Nhiễm trùng đường hô hấp trên và cảm cúm cũng là bệnh gây ra bởi virus. Việc chẩn đoán chính xác những bệnh tương tự nhau kể trên có thể giúp cho bệnh nhân đúng loại thuốc mà họ cần. Việc dùng kháng sinh để điều trị nhiễm virus có thể sẽ rất nguy hiểm.

  • CT scan: ở hầu hết các trường hợp, có thể chẩn đoán được viêm xoang cấp mà không cần làm các cận lâm sàng. Khi cần nhờ đến cận lâm sàng, CT scan là phương tiện có khả năng mô tả một cách rõ ràng tất cả những xoang cạnh mũi, hốc mũi và những cấu trúc xung quanh.
    • CT scan có thể gợi ý một trường hợp viêm xoang nếu như thấy một trong những dấu hiệu sau:
      • Mức nước hơi ở một hoặc nhiều xoang
      • Tắc nghẽn hoàn toàn ở một hoặc nhiều xoang
      • Dày lớp niêm mạc phủ bên trong xoang
    • Các lớp niêm mạc có thể dày ở những người không bị viêm xoang. Do đó, cần phải kết hợp giữa viêm xoang với lâm sàng bằng cách hỏi triệu chứng của người bệnh và khám kỹ lưỡng để có thể chẩn đoán được viêm xoang.
  • Siêu âm: là một phương tiện chẩn đoán không xâm lấn khác. Siêu âm rất nhanh, chính xác và đặc biệt là ít tốn kém hơi CT scan mặc dù có thể sẽ cho kết quả không được chi tiết bằng. Siêu âm vẫn chưa được giới y khoa chấp nhận trở thành công cụ chẩn đoán viêm xoang một cách rộng rãi, đặc biệt là ở những bác sĩ Tai Mũi Họng. Có lẽ điều này là do CT scan giúp các bác sĩ Tai Mũi họng có một hình ảnh chi tiết hơn và có thể giúp lập kế hoạch phẫu thuật.

Nếu triệu chứng vẫn còn mặc dù đã được điều trị thích đáng, cần phải chuyển bệnh nhân đến cho bác sĩ Tai Mũi Họng xem lại.

  • Bác sĩ Tai Mũi Họng có thể nhìn trực tiếp vào hốc mũi bệnh nhân và những lỗ thông với các xoang bằng đèn nội soi mũi xoang. Đây là một ống mềm dẻo hoặc cứng làm bằng sợi quang học được đưa vào mũi và cho phép bác sĩ nhìn thấy được đường thở của bệnh nhân và kiểm tra xem các xoang có mở và dẫn lưu tốt hay không. Có thể tìm ra được những nguyên nhân giải phẫu gây thở khó như vẹo vách ngăn mũi, polyp mũi, phì đại VA hay Amydal.
  • Bác sĩ cũng có thể hút dịch từ các xoang bị bệnh để kiểm tra giúp phát hiện ra vi khuẩn. Đây là một thủ thuật có xâm lấn. Trong quá trình thực hiện thủ thuật, bác sĩ sẽ đưa một cây kim xuyên qua da (hoặc lợi) và xương của bệnh nhân để vào trong xoang nhằm rút dịch ra, sau đó sẽ gửi dịch này đến phòng xét nghiệm để cấy nhằm phát hiện ra những vi khuẩn hiện diện trong đó, thường sẽ có kết quả trong vòng 2 ngày. Có thể cho kháng sinh để điều trị. Nếu cần, có thể cho thuốc tê cục bộ để bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn. Thủ thuật này ít khi được sử dụng vì sử dụng CT scan đủ để chẩn đoán viêm xoang và những kháng sinh chuẩn thường vẫn cho hiệu quả cao ngay cả khi không biết chính xác loại vi khuẩn nào gây bệnh.

ĐIỀU TRỊ

TẠI NHÀ

Những chăm sóc tại nhà có thể giúp thông xoang và làm chúng bớt khô

  • Tăng sự dẫn lưu
    • Uống nhiều nước và những thức uống giữ nước như trà nóng
    • Xông mũi 2 đến 4 lần mỗi ngày bằng cách nghiêng mặt trên chậu nước nóng (không phải vào lúc nó đang nằm trên bếp) hoặc dùng máy. Xông mũi trong vòng 10 phút. Ngoài ra cũng có thể tắm hơi nóng. Chất bạc hà, như Vicks Vapo-Rub, cũng có thể bỏ vào nước hoặc máy xông để giúp làm thông đường thở.
  • Làm loãng đàm: thuốc long đàm là những loại thuốc giúp tống xuất chất đàm ra khỏi phổi và đường hô hấp. Chúng giúp làm loãng đàm, tăng sự dẫn lưu các xoang. Thuốc thường thấy nhất là guaifenesin (bao gồm Robitussin và Mucinex). Những thuốc ho dạng lỏng bán không cần kê toa hoặc những thuốc viên cần phải có toa bác sĩ cũng có thể được sử dụng phối hợp với thuốc chống nghẹt mũi và giảm ho có thể giúp giảm triệu chứng và hạn chế việc dùng nhiều thuốc. Đọc kỹ bảng liệt kê thành phần của thuốc để có sự kết hợp đúng hoặc nhờ các dược sĩ giúp đỡ.
  • Giảm đau: thuốc giảm đau như ibuprofen (Motrin và Advil), aspirin, và naproxen (Aleve) có thể làm giảm đau và viêm. Các thuốc này giúp làm thông đường thở bằng cách làm giảm phù nề. Acetaminophen (Tylenol) có thể được sử dụng để giảm đau và hạ sốt nhưng không giúp kháng viêm.

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu chính trong việc điều trị viêm xoang là giảm phù nề hoặc giảm viêm ở mũi và xoang, giới hạn nhiễm trùng, tăng dẫn lưu xoang và giữ cho các xoang được thông.

Thuốc

Giảm viêm

  • Các tế bào máu và những tế bào ở niêm mạc xoang lúc bình thường có thể chiến đấu chống lại những tác nhân lạ xâm nhập. Tuy nhiên, khi lượng virus và vi khuẩn quá nhiều kèm với việc hệ miễn dịch bị quá tải hoặc quá mẫn với dị nguyên thì kết quả cuối cùng sẽ dẫn đến viêm xoang. Với biện pháp điều trị thích hợp, các những nhiễm trùng ngắn hạn có thể được điều trị hiệu quả. Do những tác nhân lạ kích thích tạo ra nhiều phản ứng khác nhau nên cũng có nhiều cách điều trị khác nhau có thể trị được những triệu chứng viêm
  • Thuốc thông mũi có thể giúp làm giảm bít tắc được thở và đóng vai trò quan trọng trong bước đầu điều trị để làm giảm triệu chứng
    • Thuốc xịt mũi không cần kê toa [pseudophedrine (Afrin), phenylephrine (Neo-Synephrine), naphazoline (Naphcon) chlorzoxazone (Forte)] cho tác dụng nhanh nhất, trong vòng 1 đến 3 phút. Những thuốc này không nên dùng quá 3 ngày vì chúng sẽ trở nên ít hiệu quả hơn và cần phải dùng một lượng lớn hơn để cho hiệu quả tương tự. Có thể hạn chế hiện tượng lờn thuốc này bằng cách đổi sang dùng lỗ mũi bên còn lại và giảm tần số dùng thuốc xuống. Một số người sử dụng thuốc xịt mũi một cách quá mức và trở nên phụ thuộc vào thuốc để có thể thở được bình thường và cần phải có một chương trình cai nghiện một cách khó khăn bao gồm sử dụng thuốc uống, thuốc xịt mũi steroid, nước mũi, corticoid hệ thống hoặc kết hợp những thứ trên.
    • Thuốc thông mũi đường uống (dạng viên hoặc lỏng) chứa những hoạt chất giả ephedrine hoặc phenylephrine. Hầu hết các hiệu thuốc có bán nhiều dạng thuốc thông mũi và tất cả đề cho những kết quả tương tự. Thuốc chính hãng đắt tiền hơn nhưng mức độ phóng thích chậm hơn do đó có thể dùng với tần số thưa hơn. Thuốc dạng generic thì rẻ hơn và cần phải uống mỗi 4 đến 6 giờ. Chúng cho tác dụng chậm hơn thuốc dạng xịt. Thường thì thuốc thông mũi đường uống đạt được hiệu quả trong vòng 30 đến 60 phút. Cũng giống như thuốc dạng xịt, thuốc thông mũi đường uống có thể trở nên kém hiệu quả hơn nếu dùng lâu dài. Hiện tượng lờn thuốc có xảy ra nhưng không nhiều bằng thuốc dạng xịt. Những thuốc có chứa chất giả ephedrine hiện nay không còn được bày ra trước cửa quầy thuốc nữa nhưng bạn vẫn có thể mua chúng mà không cần toa bác sĩ.
    • Cả thuốc dùng cho đường uống và đường xịt đều có tác dụng phụ, bao gồm những kích thích toàn thể gây tăng nhịp tim và huyết áp, mất ngủ, căng thẳng thần kinh, lo âu, run giật, khô miệng, nhìn mờ và nhức đầu. Chúng cũng có thể gây bí tiểu. Do đó những người trước đây đã từng bị bệnh tim mạch, tăng huyết áp, lo âu, hoặc bệnh lý đường niệu (đặc biệt là bệnh lý ở tiền liệt tuyến) nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc. Ngoài ra, phối hợp thuốc thông mũi với những loại thuốc khác có tác dụng phụ tương tự có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm.

Giới hạn nhiễm trùng

  • Mục tiêu chính của điều trị là quét sạch vi trùng ra khỏi xoang bằng kháng sinh giúp ngăn ngừa biến chứng, làm giảm triệu chứng và giảm nguy cơ bị viêm xoang mạn tính.
    • Trong những trường hợp viêm xoang cấp tính và chưa có biến chứng, có thể dùng penicillin tổng hợp như amoxicillin (Amoxil, Polymox, or Trimox). Loại kháng sinh này cho hiệu quả tốt đối với những vi khuẩn thông thường và tương đối rẻ. Tác dụng phụ thường gặp của amoxicillin bao gồm phản ứng dị ứng (sưng họng, phát ban) và khó chịu ở dạ dày.
    • Những người dị ứng với penicillin có thể dùng kháng sinh có chứa sulfur có tên là trimethoprim/sulfamethoxazole hoặc TMP/SMX (như Bactrim, Cotrim, or Septra). Loại thuốc này không được dùng với những người dị ứng với sulfur.
    • Những nguời đã được điều trị viêm xoang cấp vài lần hoặc những người bị viêm xoang mãn có thể đề kháng với amoxicillin và TMP/SMX. Những loại penicillin tổng hợp mới và cephalosporin như Augmentin, cefuroxime (Ceftin) và loracarbef (Lorabid) có thể tiêu diệt hầu hết những vi khuẩn kháng thuốc gây viêm xoang.
    • Dùng quá mức những kháng sinh thuộc phổ vi khuẩn này có thể cuối cùng dẫn đến việc tạo ra những vi khuẩn đề kháng với những loại kháng sinh có hiệu lực nhất đang được dùng hiện thời. Do đó, những kháng sinh đơn giản như amoxicillin nên được dùng đầu tiên trong vòng 14 - 21 ngày. Quy luật cơ bản là dùng kháng sinh cho đến khi triệu chứng biến mất rồi tiếp tục dùng trong 1 tuần sau đó.

Tăng dẫn lưu

  • Những loại thuốc dùng tại nhà có khả năng làm thông và ẩm các xoang nhờ đó có thể tăng sự dẫn lưu.
  • Nếu những dị nguyên từ môi trường là tác nhân gây viêm xoang, có thể cho kháng histamin để giảm phù nề niêm mạc xoang. Các dị nguyên kích thích các bạch cầu trong máu và mô phóng thích histamin vào máu làm cho dịch len ra khỏi mạch máu đi vào mô của hốc mũi gây nghẹt mũi.
    • Một số loại kháng histamin thông dụng có tác dụng an thần hiện nay không còn được khuyên dùng nữa vì chúng có khuynh hướng làm khô và tăng độ đặc của đàm làm cho quá trình dẫn lưu khó khăn hơn.
    • Những thuốc kháng histamin không có tác dụng an thần như fexofenadine (Allegra), loratadine (Claritin), hoặc desloratadine (Clarinex) không làm khô niệm mạc. Nếu bị nghẹt mũi nặng, có thể cho thêm thuốc thông mũi như Allegra-D hoặc Claritin-D.

Giữ thông xoang

  • Để điều trị viêm xoang cấp, có thể cần dùng 1 hay nhiều loại thuốc. Đối với viêm xoang cấp tái hồi hoặc viêm xoang mạn tính, có thể thêm thuốc corticoid xịt mũi để làm giảm triệu chứng. Những thuốc thường được các bác sĩ kê toa là beclomethasone (Beconase), fluticasone (Flonase), triamcinolone (Nasacort), flunisolide (Nasalide), và Vancenase.
    • Corticoid là chất ức chế quá trình viêm
    • Corticoid xịt mũi tác động trực tiếp lên lớp niêm mạc ở hốc mũi và xoang và tác dụng rất ít lên phần còn lại của cơ thể khi được dùng với liều cho phép.
    • Cũng như những loại thuốc khác, corticoid xịt mũi cũng có nhiều dạng. Một số dạng dễ dung nạp hơn những dạng còn lại. Muốn sử dụng thuốc bạn cần phải có toa bác sĩ. Những loại thuốc này không làm giảm triệu chứng ngay lập tức như thuốc thông mũi nhưng một khi đã đạt được liều điều trị thì triệu chứng thường sẽ được cải thiện và có thể sẽ không cần phải sử dụng thuốc thông mũi nữa.
    • Trong những tháng mà những yếu tố dị nguyên từ môi trường xuất hiện nhiều, sử dụng corticoid xịt mũi sớm có thể giúp ngăn ngừa viêm xoang và giữ cho các xoang được thông và dẫn lưu tốt.

Phẫu thuật

Một số bệnh nhân bị viêm xoang mạn không đáp ứng với điều trị nội khoa bằng kháng sinh và các loại thuốc làm giảm triệu chứng. Những người này khi có CT scan thể hiện một tình trạng viêm xoang cũng như bất kỳ những biến chứng nào của viêm xoang cũng đều có thể điều trị được bằng phẫu thuật.

  • Phẫu thuật xoang bằng cách dùng một sống soi mũi xoang bằng sợi quang học được dùng trong chẩn đoán.
  • Mục tiêu điều trị là loại bỏ lớp niêm mạc gây tắc nghẽn, làm thông mũi xoang và hỗ trợ dẫn lưu trong các xoang.
  • Trong khi phẫu thuật, các bác sĩ cũng có thể cắt bỏ các polyp, chỉnh hình lại vách ngăn mũi bị vẹo để làm tăng thông khí
  • Dùng corticoid xịt mũi lâu dài và kháng sinh thường kỳ vẫn có thể cần thiết.
  • Những người bị viêm xoang tiếp diễn có thể cần phải được khám kỹ hơn. Có thể bệnh nhân sẽ được cấy vi khuẩn khi đi khám định kỳ hoặc trong lúc mổ nội soi để tìm ra chủng vi trùng kỵ khí gây viêm xoang và cần phải điều trị kháng sinh theo đúng phổ kháng khuẩn hoặc cũng có thể tìm ra nấm và cần phải điều trị bằng thuốc kháng nấm.


NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Theo dõi

Những bệnh nhân không giảm triệu chứng mặc dù đã dùng kháng sinh cần phải được các bác sĩ Tai Mũi Họng theo dõi kỹ càng.

Phòng ngừa

Phòng ngừa viêm xoang tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh

  • Tránh bị nhiễm trùng đường hô hấp trên.
  • Tiêm vaccin ngừa influenza hằng năm có thể ngừa cúm và những nhiễm trùng cơ hội của đường hô hấp trên. Những loại thuốc điều trị cúm khác như zanamivir (Relenza) và oseltamivir (Tamiflu) nếu được dùng vào lúc các triệu chứng mới xuất hiện cũng có thể giúp phòng nhiễm trùng.
  • Giữ thói quen rửa tay một cách chặt chẽ và tránh tiếp xúc với những người bị cúm.
  • Trong một số nghiên cứu đã cho thấy thuốc kẽm carbonate có tác dụng làm giảm thời gian kéo dài của nhiều triệu chứng cúm.
  • Giảm stress và ăn nhiều chất chống oxi hóa, đặc biệt là những trái cây tươi, có màu sậm và rau quả có thể giúp tăng cường hệ miễn dịch.
  • Chuẩn bị đối phó với những dị nguyên theo mùa
    • Nếu viêm xoang có nguyên nhân từ các dị nguyên theo mùa hay môi trường thì việc tránh xa khỏi chúng là rất quan trọng. Nếu không tránh được, có thể dùng một số loại thuốc như kháng histamin thông dụng hoặc thuốc xịt thông mũi trong các cơn cấp tính.
    • Những người bị dị ứng theo mùa có thể cảm thấy dễ chịu hơn khi dùng những loại kháng histamin được kê toa không có tác dụng an thần trong những mùa bị dị ứng.
    • Tránh ở ngoài trời quá lâu vào mùa gây dị ứng. Đóng các cửa sổ lại và dùng máy điều hòa để lọc những tác nhân gây dị ứng nếu cần thiết. Có thể sử dụng máy làm ẩm.
    • Thuốc tiêm chống dị ứng, còn được gọi là "liệu pháp miễn dịch" cũng có thể hiệu quả trong việc làm giảm và hạn chế viêm xoang do dị ứng. Bạn có thể được các bác sĩ chuyên khoa dị ứng tiêm trong 3 đến 5 năm nhưng chúng thường cho kết quả làm giảm hoặc hết hoàn toàn triệu chứng dị ứng trong nhiều năm.
  • Giữ nước
    • Giữ vệ sinh xoang bằng cách uống nhiều nước để làm loãng chất tiết ở mũi.
    • Tránh đi máy bay, nếu cần phải đi thì dùng thuốc xịt làm thông mũi trước khi đi để giữ cho các lỗ mở của xoang được thông và thường xuyên nhỏ dung dịch muối trong khi đang bay.
    • Dung dịch muối xịt mũi (có bán ở các hiệu thuốc) có thể giúp giữ ẩm hốc mũi, loại bỏ những tác nhân gây nhiễm trùng. Xông mũi bằng nước nóng hoặc tắm hơi cũng có thể có ích.
  • Tránh những tác nhân dị ứng từ môi trường
    • Những người bị viêm xoang mạn tính nên tránh những hoạt động hoặc môi trường có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh, chẳng hạn như hút thuốc, hút thuốc thụ động, và lặn trong hồ bơi có chứa clo.

Tiên lượng

Viêm xoang thường có thể được chữa khỏi nếu điều trị sớm và đúng cách. Ngoài những trường hợp gặp các biến chứng thì tiên lượng của viêm xoang cấp do vi trùng thường là tốt. Có thể bệnh nhân bị viêm xoang mạn hoặc viêm xoang cấp tái hồi nếu bênh của họ có những nguyên nhân từ dị ứng hoặc cấu trúc cơ thể.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Girls Generation - Korean