Saturday, July 31, 2010

ECZÊMA TAI

http://www.righthealth.com/adam/graphics/images/en/19697.jpg tai chúng ta có thể gặp nhiều loại eczêma : eczêma cấp tính, eczêma mạn tính, eaêma chốc lở (cezêma impéttgineux)...

Nguyên nhân của eczêma có thể là do thể địa dị ứng, do tạng khớp, do kích thích cục bộ... Do đó trong khi điều trị bệnh này chúng ta nên phối hợp vơi khoa da liễu.

ECZÊMA CẤP TÍNH

Eczêma cấp tính hay lan rộng cả ở ống tai và vành tai. Bệnh thường hay gặp ở trẻ con, nhất là ở những em đang chảy tai.

Triệu chứng chức năng chính là ngứa, giống như trong giai đoạn đầu của viêm ống tai tỏa lan? Triệu chứng đau không rõ rệt.

Da ở vành tai và ống tai dày, đỏ, bóng, rĩ nước và keo. Nước này khô lại và biến thành vảy vàng, mịn như cám. Kính lúp cho chúng ta thấy những cái lỗ nhỏ bằng mũi kim gọi là "giếng eczêma" trên khắp lớp biểu bì.

Eczêma có thể lan rộng xuống má hoặc xuống cổ.

Nếu được điều trị đúng, bệnh có thể khỏi nhanh chống. Trái lại nếu điều trị sai, bệnh sẽ kéo dài rất lâu.

http://www.psorialess.com/shoppingcart/product_images/uploaded_images/ScalpPsoriasis/eczema_ears34.jpg

Biến chứng thường gặp của eczêma là nhọt ống tai kéo dài và đưa đến viêm ống tai tỏa lan.

Điều trị

"Eczêma không thích nước". Chúng ta chỉ nên bôi pômat Oxit kẽm 5%.

Về sau, khi eczêma khô rỗi chúng ta có thể bôi pômat Oxit thủy ngân vàng .Nếu là eczêma do chảy tai thì việc đầu tiên là phải điều trị tai giữa, đặt hông vào ống tai, mỗi ngày thấy ba bốn lần không cho mủ lan ra ngoài.

Nếu là eczêma chốc lở ma impétigineux có vảy nâu chúng ta phải làm bong vảy bằng cách đắp gạc thấm nước Đalibua (Dalibour). Sau đó chúng ta sẽ băng bằng pômat aurêômyxin, pômat pênixilin.

http://www.drhuang.net/naturalmedicine.cc/CAREY%20AFTER.jpg

ECZÊMA MẠN TÍNH Ở TAI

Eczêma mạn tính thường khu trú ở rãnh sau tai hoặc ở ống tai. Có khi toàn bộ ống tai bị bệnh, có khi chỉ có một vài điểm bị bệnh.

Triệu chứng nghèo nàn.

Bệnh nhân chỉ ngứa tai và thường hay cho que diêm hoặc cặp tóc vào tai để ngoáy.

Biểu bì bị long thành vảy mịn như cám và có thể kết lại thành nút biểu bì ở

Ống tai. Da khô và hơi dày.

Bệnh kéo dài vô thời hạn, thỉnh thoảng có những đợt bộc phát cấp tính. Lâu ngày về sau da có thể dày cộm hoặc nẻ.

http://www.lib.uiowa.edu/hardin/md/pictures22/dermnet/eczema_chronic_48.jpg

Điều trị

- Điều trị cục bộ : bôi dung dịch nitrat bạc hai ngày một lần với đám độ ngày càng tăng từ 1% đến 5%.

Pômat oxyt kem 5% cũng có tác dụng tốt.

- Điều trị toàn thân :

Kiêng rượu, gia vị, cá bể, thì để lâu ngày. Nên cho uống thuốc tẩy thường kỳ, tránh táo bón. Dùng thuốc chống dị ứng như thuốc kháng histamin tổng hợp (AH3, thiantettes), dimedrol.

Bộ môn Tai Mũi Họng Đại Học Y Dược Tp.HCM

Giảng Đường Y Khoa

Friday, July 30, 2010

DỊ VẬT Ở TAI

http://www.hearingvision.com/files/2712/6462/1743/innerear.jpgDị vật tai thường gặp ở trẻ em. Trẻ em hay nghịch nhét hạt ngô, hạt đậu, cục sỏi vào tai mình hoặc tai bạn. Những dị vật này ít gây ra biến chứng nguy hiểm. Chính lối gắp vụng về, mù quáng mới đáng sợ. Ở người lớn, dị vật ở tai có thể là cục bông bỏ quên trong tai, hạt chanh do nước gội đầu đưa vào, côn trùng (dán, ruồi, vắt...), mảnh kim khí.

Dị vật không cử động như cục bông, chỉ gây ra những triệu chứng tắc ống tai mà chúng ta đã biết : điếc, ù tai. Trái lại những dị vật sống như côn trùng sẽ gây ra những triệu chứng rất khó chịu như tiếng bò sột sạt, cắn đau, chóng mặt.

Soi ống tai cho phép chúng ta thấy dị vật, đánh giá khối lượng, hình dáng và vị trí của nó.

Biến chứng chính của dị vật là viêm ống tai, nhất là sau khi đã dùng dụng cụ sắc nhọn gắp ra nhưng không kết quả. Viêm

ống tai gây ra phù nề và đau, làm trở ngại việc gắp dị vật về sau.

Điều trị :

Nên thử bơm nước 37 độ như đối với ráy tai, nếu sau khi bơm một lít rưởi nước mà dị vật vẫn không ra thì phải dùng dụng cụ gắp ra.

Muốn lấy dị vật bằng dụng cụ phải có đủ bộ : móc tù, móc nhọn, thìa ráy tai, kìm Đuplay. Đối với trẻ con, chúng ta phải gây tê cho nó nằm yên mới làm được phương pháp tốt nhất là luồn cái móc tù vào phía trong dị vật và kéo nó ra.

Đối vớ dị vật sống, chúng ta phải giết chết nó rồi mới lấy ra được. Cách giết đơn giản nhất là cho bệnh nhân nằm nghiêng đầu bên đối diện, rồi nhỏ dầu gômênol vào đẩy ống tai, đợi mười phút cho côn trùng chết ngạt. Sau đó ngả đầu sang tai bệnh cho đầu chảy ra. Xong rồi lấy dị vật bằng cách bơm nước hoặc bằng cặp khuỷu

http://www.entdocs.com/images/surg_eartubes_function.gif

Trong trường hợp ống tai bị sưng, che kín dị vật, không lấy ra được chúng ta phải rọc da dọc theo rãnh sau tai, bóc tách và bổ đôi ống tai mềm mới gắp ra được

http://radiopaedia.org/uploads/radio/0002/2894/22894.jpg

Theo bộ môn Tai Mũi Họng ĐH Y Dược TpHCM

Giang Duong Y Khoa

GIÁO TRÌNH SINH LÝ HỌC 2008

http://i243.photobucket.com/albums/ff135/lencii_2512/2-64.jpg
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ MÔN SINH LÝ HỌC
NXB Y HỌC 2008

SƠ LƯỢC :
Chương 1. Sinh lý đại cương
Chương 2. Sinh lý máu và các dịch thể
Chương 3. Sinh lý tuần hoàn
Chương 4. Sinh lý hô hấp
Chương 5. Tiêu hoá
CHƯƠNG 6. Quá trình tạo nước tiểu ở thận.
CHƯƠNG 7. Sinh lý nội tiết
CHƯƠNG 8. Sinh lý sinh sản
CHƯƠNG 9. Sinh lý cơ
CHƯƠNG 10. Sinh lý hệ thần kinh
CHƯƠNG 11. Những chức năng cao cấp

DOWNLOAD
SINH LÝ HỌC 2 TẬP

Thursday, July 29, 2010

Thai kỳ

Thai  kỳ

Thai kỳ bắt đầu khi trứng được thụ tinh với tinh trùng, lớn lên bên trong tử cung của phụ nữ và phát triển thành em bé. Ở loài người, quá trình này kéo dài khoảng 264 ngày, tuy nhiên các bác sĩ sản khoa lại xem thai kỳ là giai đoạn có thời điểm bắt đầu từ lần có kinh cuối cùng, do đó nó kéo dài khoảng 280 ngày (40 tuần).

  • Các bác sĩ sẽ sử dụng một số thuật ngữ để mô tả về cái thai của phụ nữ. Dưới đây là một số định nghĩa có thể có ích cho bạn:
    • Thai trong tử cung: là một thai bình thường xuất hiện trong tử cung khi trứng đã được thụ tinh làm tổ trong tử cung và phát triển thành phôi.
    • Phôi: là thuật ngữ chỉ trứng đã được thụ tinh và đang phát triển trong vòng 12 tuần đầu tiên của thai kỳ.
    • Thai: là thuật ngữ chỉ phôi đang phát triển sau tuần thứ 12 của thai kỳ.
    • Beta-hCG (beta human chorionic gonadotropin): là loại hormon được nhau thai tiết ra và có thể được đo để xác định sự hiện diện và sự phát triển của thai. Nước tiểu và máu có thể được đem đi làm xét nghiệm để kiểm tra xem có sự hiện diện của loại hormon này hay không, và nó chính là loại hormon được dùng để đo trong các loại thử thai ở nhà. Nếu xét nghiệm cho kết quả dương tính có nghĩa là bạn đang có thai; tuy nhiên, xét nghiệm vẫn có thể cho kết quả dương tính trong vòng 6, 7 tuần sau khi sinh hoặc sau khi sẩy thai.
    • Tam cá nguyệt: khoảng thời gian mang thai có thể được chia ra làm 3 giai đoạn được gọi là tam cá nguyệt (mỗi giai đoạn kéo dài khoảng 3 tháng). Mỗi tam cá nguyệt sẽ xảy ra những sự kiện và dấu hiệu phát triển riêng biệt. Chẳng hạn như trong tam cá nguyệt thứ nhất sẽ diễn ra sự hình thành của các hệ cơ quan khác nhau.
    • Ngày dự sanh: là ngày sinh được ước lượng bằng cách cộng thêm 280 ngày sau ngày đầu tiên của lần hành kinh cuối cùng.
  • Các thai phụ và bác sĩ sản của họ sẽ phải cùng hợp tác với nhau để theo dõi thai nhằm phòng ngừa một số bệnh trong quá trình phát triển của nó hoặc điều trị sớm các bệnh này, bao gồm một số bệnh sau:
    • Thai kỳ nguy cơ cao: nếu một phụ nữ dễ bị biến chứng khi mang thai, thai kỳ của cô ta sẽ được gọi là thai kỳ có nguy cơ cao. Chẳng hạn như thai kỳ ở những phụ nữ bị đái tháo đườngtăng huyết áp. Những biến chứng liên quan đến tuổi tác có thể xảy ra ở những thai phụ dưới 20 tuổi hoặc trên 35 tuổi, hoặc những phụ nữ đã được điều trị vô sinh, hoặc những thai kỳ có được do những kỹ thuật trợ sinh.
    • Thai lạc chỗ: là tình trạng mang thai nhưng trứng không làm tổ ở tử cung mà ở một vị trí khác. Đây có thể là một tình trạng gây đe dọa mạng sống. Thai lạc chỗ phải được chẩn đoán sớm để tránh gây tổn thương vòi trứng và để ngăn ngừa những biến chứng nặng hoặc tử vong. Nó còn được gọi là thai trong vòi trứng (nếu trứng làm tổ ở vòi trứng) hoặc thai ngoài tử cung.
    • Bất túc cổ tử cung hoặc sinh non: là tình trạng cổ tử cung bị dãn ra và mỏng đi trước khi thai đủ trưởng thành. Bất túc cổ tử cung có thể gây sẩy thai và sinh non trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ.
    • Tiền sản giật/sản giật: Tiền sản giật là một bệnh hệ thống có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan khác nhau trong cơ thể. Những ành hưởng trên mạch máu làm huyết áp tăng lên ở những phụ nữ đang mang thai, làm thay đổi chức năng của thận, phù nề khắp cơ thể, và thay đổi tính chất hóa học của máu và các phản xạ thần kinh. Nếu không điều trị, tiền sản giật có thể dẫn đến sản giật, là một bệnh rất nặng có thể dẫn đến co giật, hôn mê, và thậm chí là tử vong.
    • Đa thai (sinh đôi, sinh ba): những trường hợp song thai có nguy cơ bị sinh non gấp 2 lần những trường hợp chỉ sinh một. Tỷ lệ bị sinh non thậm chí còn cao hơn ở những trường hợp sinh ba và sinh tư. Tiền sản giật cũng xảy ra nhiều gấp 3 đến 5 lần ở những trường hợp đa thai.

TAM CÁ NGUYỆT THỨ NHẤT - BA THÁNG ĐẦU

Ba tháng đầu thai kỳ

Những thay đổi ở cơ thể mẹ

Trong 3 tháng đầu của thai kỳ cơ thể sẽ trải qua nhiều thay đổi. Do cơ thể phải điều chỉnh để thích nghi với sự phát triển của em bé, bạn có thể sẽ bị buồn nôn, mệt mỏi, đau lưng, thay đổi cảm xúc thất thường, và stress. Chúng đều là những biểu hiện bình thường.

Hầu hết những sự khó chịu này sẽ biến mất trong quá trình phát triển của thai. Và một số phụ nữ có thể không cảm thấy bất cứ sự khó chịu nào cả. Nếu bạn đã từng có thai trước đây, bạn có thể cảm thấy sự khác biệt trong khoảng thời gian này. Cũng giống như mỗi phụ nữ mang thai đều cảm thấy khác nhau, chính bản thân từng người phụ nữ cũng cảm thấy sự khác nhau ở những lần mang thai khác nhau.

Khi cơ thể bạn thay đổi, bạn có thể cần phải thay đổi những sinh hoạt hằng ngày bình thường của mình. Dưới đây là một số thay đổi hoặc triệu chứng thường gặp trong 3 tháng đầu thai kỳ:

Mệt mỏi

Nhiều thai phụ sẽ cảm thấy mệt mỏi trong 3 tháng đầu. Tuy nhiên, bạn không nên lo lắng vì đây chỉ là hiện tượng bình thường. Đây là cách cơ thể thông báo với bạn rằng nó cần được nghỉ ngơi nhiều hơn. Sau hết, cơ thể bạn đang phải làm việc rất cực nhọc để phát triển cả một sinh thể mới.

Hãy thử làm những cách sau để giảm mệt mỏi:

  • Ngủ ít nhất 8 giờ mỗi đêm, và chợp mắt một chút vào ban ngày khi có cơ hội.
  • Khi cảm thấy mệt mỏi, hãy nghỉ ngơi và thư giãn.
  • Bắt đầu ngủ nghiêng người qua bên trái để làm giảm áp lực đè lên các mạch máu lớn cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho thai nhi. Nếu bạn bị tăng huyết áp khi mang thai, thì việc nằm ngủ nghiêng trái thậm chí còn trở nên quan trọng hơn nữa.
  • Nếu bạn cảm thấy stress, hãy cố gắng tìm cách để thư giãn.

Buồn nôn và nôn

Thường được gọi là ốm nghén, triệu chứng buồn nôn và nôn rất thường gặp trong giai đoạn đầu mang thai. Mặc dù bạn sẽ cảm thấy có vẻ như triệu chứng này kéo dài mãi mãi, nhưng nó thường sẽ hết sau tam cá nguyệt thứ nhất.

Hãy thử làm những cách sau để phòng ngừa và làm dịu triệu chứng buồn nôn:

  • Chia bữa ăn ra làm nhiều bữa nhỏ (6 đến 8 bữa một ngày) chứ không nên ăn 3 bữa lớn. Tránh những thức ăn có chất béo, đồ chiên hoặc có nhiều gia vị.
  • Ăn những loại snack tinh bột, chẳng hạn như bánh mì nướng, bánh quy mặn, hoặc những loại ngũ cốc khô khi bạn cảm thấy buồn nôn. Để một ít cạnh giường và ăn chúng trước khi ra khỏi giường vào buổi sáng. Nếu bạn cảm thấy buồn nôn vào nửa đêm, hãy lấy một ít để ăn. Cũng là một ý hay nếu bạn muốn mang những loại snack này bên cạnh mình suốt ngày để đề phòng trường hợp buồn nôn.
  • Uống các loại nước carbonate giữa các bữa ăn.
  • Hãy hỏi bác sĩ về việc thay đổi các loại vitamin đang sử dụng trước khi sinh nếu như có vẻ như nó làm bạn cảm thấy buồn nôn nhiều hơn. Đôi khi uống những loại vitamin này vào một thời điểm khác (vào buổi tối chứ không phải buổi sáng) cũng có thể có kết quả.
  • Hãy hỏi bác sĩ về việc dùng vitamin B6 để giảm buồn nôn nếu thay đổi chế độ ăn vẫn không làm thuyên giảm triệu chứng này.

Nếu bạn cho rằng bạn bị nôn quá nhiều, hãy gọi cho bác sĩ. Nếu bạn bị mất quá nhiều dịch, bạn có thể bị thiếu nước. Tình trạng thiếu nước có thể rất nguy hiểm cho bạn và cho thai nhi.

Ở một số phụ nữ, triệu chứng buồn nôn trong 3 tháng đầu thai kỳ nặng đến mức họ trở nên bị suy dinh dưỡng và thiếu nước. Những phụ nữ này có thể gặp một tình trạng được gọi là nôn nghén (HG - Hyperemesis gravidarum). Nôn nghén là tình trạng buồn nôn liên tục và/hoặc nôn 6,7 lần mỗi ngày trong 3 đến 4 tháng đầu thai kỳ.

Nôn nghén làm các thai phụ không uống đủ nước và ăn đủ thức ăn để khỏe mạnh được. Những thai phụ nôn nghén bị mất hơn 5% cân nặng so với trước khi sinh, bị những bệnh về dinh dưỡng và những bệnh về cân bằng điện giải của cơ thể. Tình trạng nôn và buồn nôn kéo dài cũng có thể gây khó khăn cho các thai phụ khi đi làm việc hoặc làm những việc thường ngày.

Nhiều thai phụ bị nôn nghén có thể cần phải nhập viện để được cung cấp dịch và chất dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch. Thông thường, những thai phụ này sẽ bắt đầu cảm thấy khỏe hơn vào khoảng tuần thứ 20 của thai kỳ. Những một số phụ nữ sẽ nôn và cảm thấy buồn nôn trong suốt thai kỳ.

Đi tiểu nhiều

Trong giai đoạn đầu của thai kỳ, có thể bạn sẽ phải đi vào toilet liên tục do tử cung đang phát triển đè lên bàng quang gây tiểu nhiều.

Hãy đến gặp bác sĩ ngay lập tức nếu bạn chú ý thấy đau, rát, hoặc chảy mủ hoặc máu trong nước tiểu. Bạn có thể bị nhiễm trùng đường niệu và cần phải được điều trị.

Tăng cân

Trong vòng 3 tháng đầu, chỉ số cân nặng của bạn sẽ tăng lên một ít, khoảng nửa kg mỗi tháng.

Những thay đổi ở thai nhi

Vào cuối tam cá nguyệt thứ nhất, thai nhi có chiều dài khoảng 7,6 cm và nặng khoảng 14,17 gr. Hai mắt di chuyển lại gần nhau để vào vị trí của chúng và tai cũng ở đúng chỗ của nó. Gan tạo ra mật và thận tiết nước tiểu vào bàng quang. Mặc dù có thể bạn không cảm thấy thai nhi cử động nhưng thật chất là nó đang cử động ở bên trong khi có người ấn vào bụng mẹ.

Đi khám bệnh

Trong những tháng đầu của thai kỳ, việc đi khám bệnh thường xuyên (chăm sóc trước sinh) đặc biệt quan trọng. Hãy hợp tác với bác sĩ để cùng chăm sóc thai, cố gắng đi khám tất cả các lần hẹn vì tất cả chúng đều rất quan trọng.

Trong lần khám thai đầu tiên, các bác sĩ hoặc y tá có thể thực hiện một số việc sau:

  • Khai thác những thông tin về sức khỏe của bạn bao gồm những bệnh đã mắc, những cuộc phẫu thuật đã trải qua hoặc những lần mang thai trước đây.
  • Khai thác những thông tin về sức khỏe của gia đình bạn.
  • Khám lâm sàng đầy đủ.
  • Khám khung chậu và làm Pap test.
  • Kiểm tra huyết áp, nước tiểu, và cân nặng
  • Xác định ngày dự sanh.
  • Trả lời những thắc mắc của bạn.

Những xét nghiệm và thủ thuật được làm trong 3 tháng đầu

Để kiểm tra một số bệnh lý hoặc di truyền, bạn có thể cần phải thực hiện một số xét nghiệm, chẳng hạn như xét nghiệm máu, nước tiểu, cấy vi khuẩn, hoặc siêu âm trong 3 tháng đầu. Những xét nghiệm thường được đề nghị nhất trong 3 tháng đầu bao gồm:

Khảo sát lớp mờ vùng gáy

Khảo sát lớp mờ vùng gáy

Là một loại khảo sát mới có thể thực hiện trong khoảng từ tuần thứ 11 đến tuần thứ 14 của thai kỳ. Đây là cách dùng siêu âm và xét nghiệm máu để tính toán nguy cơ bị một số dị dạng bẩm sỉnh. Các bác sĩ sử dụng siêu âm để kiểm tra độ dày của vùng phía sau cổ thai nhi. Họ cũng xét nghiệm máu để xác định nồng độ protein được gọi là protein huyết thanh liên quan đến thai kỳ và hormon gonadotropin ở màng đệm người (hCG). Các bác sĩ sẽ dùng thông tin này để xác định xem thai nhi bình thường hay có nguy cơ bị dị dạng bẩm sinh cao hơn bình thường.

Trong một nghiên cứu quan trọng gần đây, khảo sát lớp mờ vùng gáy có thể phát hiện ra được 87% trường hợp bị hội chứng Down khi thực hiện vào tuần thứ 11 của thai kỳ. Nếu khảo sát lớp mờ vùng gáy đi kèm với một xét nghiệm máu khác được thực hiện vào tam cá nguyệt thứ hai (xét nghiệm tầm soát huyết tương mẹ), sẽ phát hiện ra được 95% thai nhi bị hội chứng Down.

Cũng giống như mọi loại khảo sát khác, kết quả khảo sát này đôi khi cũng có thể sai sót. Khoảng 5% phụ nữ được khảo sát cho kết quả thai nhi có nguy cơ cao bị dị tật bẩm sinh nhưng thật sự thì chúng vẫn khỏe mạnh. Hiện tượng này được gọi là dương tính giả. Để biết chắc chắn thai nhi có bị dị tật bẩm sinh hay không, sau khi thực hiện khảo sát này cần phải làm thêm các khảo sát chẩn đoán chẳng hạn như xét nghiệm lấy mẫu nhung mao màng đệm hoặc chọc ối.

Hiện nay khảo sát lớp mờ vung đáy chưa được sử dụng rộng rãi. Nếu bạn có hứng thú với khảo sát này, hãy trao đổi với bác sĩ khám cho mình. Nếu bác sĩ không thể thực hiện được, họ có thể gửi bạn đến những bác sĩ khác có khả năng. Khảo sát này cho phép các bà mẹ phát hiện ra sớm những vấn đề tiềm tàng của thai nhi và có thể giúp quyết định khi nào cần phải thực hiện các khảo sát theo dõi.

Xét nghiệm lấy mẫu nhung mao màng đệm

Xét nghiệm lấy mẫu nhung mao màng đệm được thực hiện trong khoảng từ tuần thứ 10 đến 12 của thai kỳ. Khi thực hiện, các bác sĩ đâm kim xuyên qua bụng và luồn catheter qua cổ tử cung để chạm đến nhau. Sau đó, các bác sĩ sẽ lấy một mẫu các tế bào từ nhau. Các chuyên gia sẽ sử dụng mẫu này để tìm những bất thường trên nhiễm sắc thể của thai nhi. Xét nghiệm này không thể phát hiện được bệnh hở ống thần kinh. Khoảng 1/200 phụ nữ bị sẩy thai khi thực hiện xét nghiệm này.

TAM CÁ NGUYỆT THỨ HAI - BA THÁNG GIỮA

Ba tháng giữa thai kỳ

Những thay đổi ở cơ thể mẹ

Hầu hết các thai phụ cảm thấy tam cá nguyệt thứ hai trôi qua nhẹ nhàng hơn tam cá nguyệt đầu tiên nhưng cũng cần phải được thông tin đầy đủ về thai kỳ trong những tháng này.

Bạn có thể thấy những triệu chứng như nôn ói và mệt mỏi biến mất. Nhưng những thay đổi khác, gây chú ý hơn của cơ thể có thể xuất hiện. Bụng của bạn sẽ lớn ra trong lúc bạn tiếp tục tăng cân và em bé tiếp tục lớn. Và trước khi tam cá nguyệt này kết thúc, bạn sẽ cảm thấy em bé bắt đầu chuyển động.

Bạn sẽ có thể cảm thấy nhiều cơn đau nhức từ tam cá nguyệt thứ nhất tiếp tục kéo dài đến giai đoạn này.

Một số triệu chứng sau có thể xuất hiện lần đầu tiên vào tam cá nguyệt thứ hai:

  • Đau ở bụng, háng, và bắp đùi
  • Đau lưng
  • Khó thở
  • Nổi vân da
  • Thay đổi ở da
  • Ngứa ran ở bàn và ngón tay
  • Ngứa ở bụng, lòng bàn tay, và lòng bàn chân. Hãy đến gọi cho bác sĩ nếu bạn bị nôn ói, ăn mất ngon, vàng da, hoặc mệt mỏi kèm với ngứa ngáy. Đây có thể là những dấu hiệu của một bệnh gan nặng được gọi là ứ mật thai kỳ.

Tăng cân

Mọi thai phụ đều tăng cân ở những mức độ khác nhau. Trung bình, một thai phụ bình thường có thể tăng khoảng 0,5kg mỗi tuần, hoặc 1,5 đến 2 kg mỗi tháng trong ba tháng giữa thai kỳ.

Những thay đổi ở thai nhi

Vào cuối tam cá nguyệt thứ 2, thai nhi nặng khoảng 0,8 kg và dài khoảng 33 cm kèm theo sự phát triển của ngón tay, ngón chân, lông mi, và lông mày. Trong khoảng tháng thứ 5, bạn có thể cảm thấy thai nhi chuyển động. Vào cuối tam cá nguyệt này, toàn bộ những cơ quan cơ bản của thai nhi như tim, phổi và thận đều được hình thành.

Những xét nghiệm và thủ thuật

Trong tam cá nguyệt thứ hai, bạn nên tiếp tục đến gặp bác sĩ để được chăm sóc thai kỳ. Bạn nên đến khám thai mỗi tháng 1 lần cho đến cuối tam cá nguyệt này.

Vào tam cá nguyệt thứ hai, các bác sĩ có thể dùng siêu âm để theo dõi xem thai nhi có phát triển bình thường hay không. Bạn cũng có thể được đề nghị thực hiện các xét nghiệm tầm soát để phát hiện những dị tật bẩm sinh di truyền.

Các dị tật bẩm sinh xuất hiện do những bất thường trong gen của trẻ, gen là những yếu tố di truyền được chuyển từ cha và mẹ đến cho trẻ vào thời điểm thụ tinh. Những dị tật bẩm sinh di truyền đôi khi xảy ra ở những người không có những người thân bị những bệnh này. Những phụ nữ trên 35 tuổi có nguy cơ sinh con bị di tật bẩm sinh cao hơn những người khác.

Một số xét nghiệm chẩn đoán và tầm soát mà bác sĩ có thể đề nghị thực hiện trong tam cá nguyệt thứ hai bao gồm:

Chọc ối

Được thực hiện ở những thai kỳ từ 16 tuần trở lên. Bác sĩ sẽ chọc kim qua thành bụng đi vào tử cung để vào túi ối rồi rút một lượng nhỏ dịch ối ra ngoài để khảo sát. Các tế bào trong dịch ối sẽ được cho phát triển trong phòng thí nghiệm để tìm ra những bất thường ở các nhiễm sắc thể. Dịch ối cũng có thể được đem đi làm xét nghiệm AFP. Khoảng 1/200 thai phụ bị sẩy thai do thực hiện nghiệm pháp này.

Xét nghiệm lấy mẫu nhung mao màng đệm

Được thực hiện vào khoảng từ tuần thứ 10 đến 12 của thai kỳ. Bác sĩ chọc kim qua thành bụng của bệnh nhân hoặc đưa một catheter qua cổ tử cung để chạm đến nhau. Sau đó bác sĩ sẽ lấy một mẫu tế bào nhau rồi đem đến phòng xét nghiệm để tìm ra những bất thường trong nhiễm sắc thể. Xét nghiệm này không thể tìm ra dị tật mở ống thần kinh của thai nhi. Khoảng 1/200 thai phụ bị sẩy thai do thực hiện nghiệm pháp này.

Xét nghiệm tầm soát huyết tương của mẹ

Loại xét nghiệm máu này có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau bao gồm: xét nghiệm tầm soát đa marker, xét nghiệm bộ ba, tầm soát bộ tứ, v.v... Xét nghiệm này thường được thực hiện trong khoảng thời gian từ tuần thứ 15 đến tuần 20 của thai kỳ. Nó giúp phát hiện những bất thường bẩm sinh bao gồm hội chứng Down, trisomy 18, hoặc dị tật mở ống thần kinh. Bác sĩ sẽ lấy một mẫu máu của mẹ rồi kiểm tra 3 thành phần hóa học trong đó bao gồm: alpha-fetoprotein (AFP) (được gan của thai nhi tạo ra) và hai loại hormon thai kỳ: estriol và hCG. Đôi khi các bác sĩ còn kiểm tra thành phần thứ 4 trong máu là inhibin-A. Kiểm tra inhibin-A có thể cải thiện khả năng phát hiện những thai nhi có nguy cơ cao bị hội chứng Down.

Nồng độ AFP cao có liên quan đến dị tật mở ống thần kinh. Ở những phụ nữ từ 35 tuổi trở lên, xét nghiệm này có thể phát hiện ra khoảng 80% thai nhi bị hội chứng Down, trisomy 18, hoặc dị tật mở ống thần kinh. Trong nhóm tuổi này, có một tỷ lệ dương tính giả (cho kết quả dương tính nhưng thai nhi không thật sự bị mắc những bệnh này) là 22%. Ở những phụ nữ dưới 35 tuổi, xét nghiệm này có thể phát hiện ra khoảng 65% trường hợp thai nhi bị hội chứng Down, và tỷ lệ dương tính giả khoảng 5%.

Siêu âm mục tiêu

Thời điểm tốt nhất để thực hiện siêu âm mục tiêu là vào khoảng tuần thứ 18 đến 20 của thai kỳ. Hầu hết những bất thường chính trong sự phát triển của thai nhi có thể phát hiện ra được trong giai đoạn này. Một số dị tật thực thể như chân dùi trống và dị tật của tim có thể không phát hiện ra được.

Bác sĩ cũng có thể dùng siêu âm để kiểm tra xem trẻ có bị dị tật nào của ống thần kinh hay không, chẳng hạn như nứt đốt sống. Đây không phải là khảo sát tốt nhất để phát hiện hội chứng Down. Chỉ 1/3 trẻ bị hội chứng Down cho kết quả siêu âm bất thường trong ba tháng giữa thai kỳ.

TAM CÁ NGUYỆT THỨ BA - BA THÁNG CUỐI

Ba tháng cuối thai kỳ

Trong giai đoạn này, bạn nên bắt đầu nghĩ đến cách cho con bú, học cách phát hiện những dấu hiệu báo sinh và tìm hiểu những thông tin về sinh mổ.

Những thay đổi ở cơ thể mẹ

Một số khó chịu mà bạn gặp phải trong tam cá nguyệt thứ hai sẽ tiếp tục xuất hiện ở giai đoạn này. Ngoài ra, nhiều thai phụ còn cảm thấy thở khó khăn hơn và cần phải vào phòng vệ sinh nhiều hơn trước. Nguyên nhân của hiện tượng này là do thai nhi phát triển lớn hơn và đè ép nhiều hơn vào các cơ quan trong cơ thể mẹ. Đừng lo lắng gì cả, đứa trẻ trong bụng bạn vẫn ổn và những vấn đề trên sẽ giảm bớt đi khi bạn sinh con.

Một số cơn đau và khó chịu sau thường sẽ xảy ra lần đầu tiên vào ba tháng cuối thai kỳ:

  • Ợ nóng
  • Phù nề ở mắt cá chân, ngón tay, và mặt. Nếu bạn phát hiện ra mình bị phù nề đột ngột hoặc quá nặng hay bị tăng cân nhiều và nhanh, hãy gọi cho bác sĩ ngay lập tức. Đây có thể là dấu hiệu của tiền sản giật hoặc nhiễm độc thai nghén.
  • Trĩ
  • Căng vú
  • Khó ngủ

Khi gần ngày sinh, cổ tử cung của bạn sẽ trở nên mỏng hơn và mềm hơn (xóa cổ tử cung). Đây là một diễn tiến bình thường và tự nhiên giúp âm đạo mở ra trong khi sinh. Bác sĩ sẽ kiểm tra diễn tiến này của bạn bằng cách khám âm đạo.

Tăng cân

Mọi sản phụ đều tăng cân ở những mức độ khác nhau. Trung bình, một sản phụ bình thường sẽ tăng khoảng nửa kg mỗi tuần, hoặc 1,5 đến 2 kg mỗi tháng trong tam cá nguyệt thứ 3. Vào cuối thai kỳ, bạn có thể tăng trung bình khoảng từ 11 đến 13,5 kg. Trẻ sẽ nặng khoảng 3,4kg.

Những thay đổi ở trẻ

Trẻ sẽ tiếp tục lớn và cử động, nhưng bây giờ bé có ít khoảng không hơn bên trong tử cung của mẹ. Do đó, bạn sẽ không còn cảm thấy trẻ đá hoặc chuyển động nhiều bằng tam cá nguyệt thứ hai. Trong giai đoạn cuối cùng này của thai kỳ, thai nhi tiếp tục phát triển. Ngay trước khi sinh, bé đã có thể mở và nhắm mắt và thậm chí có thể mút ngón tay.

Khi cơ thể bạn đang chuẩn bị cho cuộc sinh, bé cũng sẽ bắt đầu di chuyển đến đúng tư thế để đi ra ngoài. Bạn có thể cảm thấy trẻ di chuyển xuống phía dưới thấp hơn của bụng mình. Hiện tượng này có thể làm giảm áp lực lên phổi và khung xương sườn làm bạn dễ thở hơn.

Vào thời điểm ra đời, một đứa trẻ trung bình có chiều dài khoảng 51 đến 56 cm, và nặng khoảng 3,4 kg. Nhưng nếu trẻ có cân nặng từ 2,6 kg đến 3,8 kg vẫn được xem là bình thường.

Giấc ngủ trong 3 tháng cuối thai kỳ

Nguồn năng lượng của bạn sẽ có thể giảm xuống khi bạn ở tháng thứ 9 của thai kỳ. Do đó, bạn có thể bắt đầu hoạt động chậm lại. Đây là một hiện tượng bình thường. Điều quan trọng là bạn cần phải nghỉ ngơi đủ ngay cả khi có thể việc chìm vào giấc ngủ đối với bạn sẽ trở nên khó khăn hơn khi cơ thể bạn lớn hơn. Những cử động của thai nhi, việc phải chạy vào toilet thường xuyên và sự tăng chuyển hóa của cơ thể có thể làm giấc ngủ trở nên khó khăn hơn.

Hãy thử những cách sau để có thể ngủ được trong 3 tháng cuối thai kỳ:

  • Tránh ăn nhiều trong vòng 3 giờ trước khi ngủ.
  • Tập những bài vận động nhẹ nhàng, chẳng hạn như đi bộ.
  • Tránh ngủ quá lâu vào ban ngày
  • Hãy nói chuyện với chồng, bạn, bác sĩ, hoặc nữ hộ sinh để làm giảm stress.

Đi khám thai

Tiếp tục đi khám thai đều đặn. Trong ba tháng cuối thai kỳ, các thai phụ thường đến gặp bác sĩ thường xuyên hơn. Từ tuần thứ 30 đến 38 của thai kỳ, hầu hết các bác sĩ sẽ đề nghị các thai phụ đến khám vào mỗi 2 tuần một lần. Sau 38 tuần, các thai phụ sẽ đến khám thai mỗi tuần 1 lần cho đến lúc sinh.

Khi sắp đến ngày sinh, hãy nêu những thắc mắc và những mối lo lắng của mình về quá trình sinh nở. Bạn và bác sĩ sẽ thảo luận với nhau về cách sinh của bạn. Một số thai phụ cần phải được mổ lấy thai. Đây là một phẫu thuật rạch một đường trên bụng và tử cung của bạn để lấy em bé ra.

Nếu bạn quyết định không sinh mổ mà sinh qua đường âm đạo, bạn nên trao đổi với bác sĩ về những mặt phải và trái của việc giảm đau. Một số thai phụ chọn cách giảm đau và một số khác lại muốn sinh con một cách tự nhiên, không cần giảm đau.

Giục sinh

Bạn có biết chỉ khoảng 5% trẻ được sinh ra đúng ngày dự sinh? Do đó, ngày sinh thật sự xảy ra sau ngày dự sinh là bình thường và hay gặp và không phải là một biểu hiện bất thường nào cả. Nhưng đôi khi, bác sĩ sẽ cảm thấy lo lắng về em bé và/hoặc sức khỏe của bạn. Trong những trường hợp này, các bác sĩ sẽ đề nghị bạn thực hiện những biện pháp giục sinh. Giục sinh là kỹ thuật làm cơn chuyển dạ xảy ra bằng những biện pháp nhân tạo. Hầu hết các bác sĩ sẽ chờ đợi 1 đến 2 tuần sau ngày dự sinh trước khi quyết định sử dụng biện pháp giục sinh.

Một số lý do khiến các bác sĩ phải giục sinh bao gồm:

  • Mẹ bị những bệnh mạn tính như tăng huyết áp hoặc đái tháo đường có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của thai nhi.
  • Trẻ không phát triển bình thường
  • Mẹ bị vỡ ối, có nghĩa là màng bao quanh thai nhi bị vỡ nhưng hiện tượng co bóp để tống thai nhi ra ngoài không xuất hiện sau một khoảng thời gian được xem là an toàn.

Hầu hết các bác sĩ thực hiện các biện pháp giục sinh trong bệnh viện để bảo đảm sức khỏe của mẹ và bé. Có nhiều cách để làm tăng co bóp. Các bác sĩ có thể làm vỡ màng bao quanh thai nhi (màng ối). Họ cũng có có thể đặt thuốc có chứa hormon vào âm đạo của thai phụ. Cách thường dùng nhất là dùng một loại thuốc có tên là Pitocin để giục sinh. Pitocin là một loại hormon gây co bóp. Các thai phụ sẽ được tiêm Pitocin vào tĩnh mạch ở cánh tay hoặc bàn tay.

Quyết định nuôi con bằng sữa mẹ hay sữa bình

Nếu bạn vẫn chưa nghĩ đến việc mình sẽ nuôi con bằng sữa mẹ hay sữa bình thì đây là thời điểm bắt đầu nghĩ đến nó. Bạn nên tìm hiểu nhiều hơn về cả 2 lựa chọn trên để tự quyết định. Nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn nhiều so với sữa bột đối với sức khỏe của trẻ và của bạn.

Tìm hiểu những thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ hoặc trao đổi với bác sĩ sản hoặc bác sĩ nhi khoa về đề tài này. Sau đó lựa chọn quyết định đúng cho bản thân mình.

Khi nào cần gọi bác sĩ

Trước ngày sinh, hãy bảo đảm rằng bạn đã nói chuyện với bác sĩ về cách thức liên lạc với ông ta/bà ta khi bạn chuyển dạ. Cũng rất cần thiết nếu như bạn làm quen trước với bệnh viện hoặc nơi bạn sẽ sinh con, cách đăng ký vào đó trước thời hạn. Bạn cũng nên biết rằng đôi khi bạn tưởng rằng mình đang chuyển dạ nhưng thật sự không phải như vậy (đây được gọi là hiện tượng chuyển dạ giả). Điều này xảy ra với nhiều sản phụ, do đó không nên cảm thấy xấu hổ khi đi đến bệnh viện và bảo đảm rằng mình đang chuyển dạ nhưng rốt cuộc lại được cho về. Luôn luôn là tốt hơn nếu bạn được khám bởi bác sĩ sớm hết mức có thể khi chuyển dạ bắt đầu xảy ra. Dưới đây là một số dấu hiệu của cơn chuyển dạ thật sự:

  • Cơn co bóp diễn ra thường xuyên hơn và mạnh hơn, những khoảng nghỉ giữa các cơn cũng ngắn dần đi.
  • Đau vùng thắt lưng không giảm. Bạn cũng có thể cảm thấy những triệu chứng tương tự như trong giai đoạn trước khi có kinh kèm với co thắt.
  • Vỡ ối (có thể làm nước ối chảy ào ạt hoặc nhỏ giọt liên tục) và bạn sẽ cảm thấy các cơn co bóp.
  • Xuất tiết dịch có lẫn máu (màu nâu hoặc đốm máu). Đây là nút dịch chẹn ở cổ tử cung. Cơn chuyển dạ có thể xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào hoặc vài ngày sau.
  • Cổ tử cung sẽ dãn ra (mở cổ tử cung) và trở nên mỏng hơn và mềm hơn (còn được gọi là xóa cổ tử cung). Khi khám khung chậu, bác sĩ có thể phát hiện được khi hiện tượng này xảy ra.

NHỮNG DẤU HIỆU BẤT THƯỜNG CẦN PHẢI ĐI KHÁM

Nếu một người phụ nữ nghi ngờ mình có thai hoặc thử thai tại nhà bằng que thử cho kết quả dương tính, cô ta nên hẹn gặp nhân viên y tế (có thể là bác sĩ sản khoa hoặc nữ hộ sinh) để được theo dõi thai kỳ. Chăm sóc thai kỳ trong giai đoạn sớm là yếu tố cơ bản giúp bạn có được một thai kỳ khỏe mạnh.

  • Một phụ nữ đang mang thai nên gọi cho bác sĩ nếu như gặp một trong những tình huống sau:
    • Chuyển dạ hoặc vỡ màng ối (tiết dịch ở âm đạo).
    • Đau bụng hoặc âm đạo.
    • Chảy máu âm đạo màu đỏ tươi
    • Nôn nhiều hơn 3 lần trong 1 ngày hoặc nôn ra máu
    • Huyết áp tăng quá cao (trên 140/90)
    • Tăng cân nhanh và đột ngột.
    • Nhức đầu nặng hoặc thay đổi thị giác
    • Đau chân hoặc đau ngực nặng.
  • Hãy đến phòng cấp cứu nếu gặp một trong những tình huống sau:
    • Ngất
    • Chảy máu âm đạo nhiều hơn 1 miếng thấm trong 1 giờ.
    • Bị đau nặng nề ở bụng hoặc vai hoặc cảm giác gần như ngất đi.
    • Thấy những chất màu hồng, nâu, hoặc trắng chảy ra từ âm đạo nhưng không nhìn giống máu cục (bạn nên mang những chất này theo đến bệnh viện).
    • Chảy máu hoặc chảy nước ồ ạt từ âm đạo trong giai đoạn cuối thai kỳ (đây có thể là dấu hiệu của cơn chuyển dạ).
    • Bị co giật nhưng trước đây chưa từng bị động kinh (đây có thể là dấu hiệu của sản giật, là một biến chứng của thai kỳ)
    • Bị chấn thương, chẳng hạn như ngã, bị đánh vào bụng hoặc khung chậu, hoặc tai nạn giao thông.

Đau vùng bụng dưới ở giai đoạn cuối thai kỳ có thể là cơn đau của chuyển dạ do sự co bóp của tử cung. Khi đó bạn có thể cố uống khoảng 1 lít nước và nằm nghiêng 1 bên rồi theo dõi xem triệu chứng có giảm đi sau 2 giờ hay không. Nếu triệu chứng không giảm, bạn nên đến gặp bác sĩ.

NHỮNG CÂU BẠN NÊN HỎI BÁC SĨ

  • Tôi có nguy cơ bị bệnh di truyền hay không?
  • Tôi sẽ tăng bao nhiêu kg?
  • Tôi có bị tăng cân quá nhanh hay không?
  • Tôi phải thay đổi chế độ ăn của mình như thế nào (đặc biệt nếu như bạn là người ăn chay)?
  • Những xét nghiệm tôi cần phải làm và khi nào thì nên thực hiện chúng?
  • Tôi có thuộc nhóm thai kỳ có nguy cơ cao hay không?
  • Tôi có nguy cơ sinh mổ hay không?
  • Những bài tập thể dục nào là an toàn đối với tôi hiện nay?
  • Tôi cần phải tiêm những loại vaccin nào?
  • Tôi cần uống những loại thuốc nào?
  • Chúng ta có thể lập kế hoạch chăm sóc thai kỳ bây giờ được không?
  • Tôi có cần phải thuê người giúp việc hay không?

ĐIỀU TRỊ

Một thai kỳ bình thường không phải là một bệnh do đó không cần phải điều trị gì cả ngoại trừ quá trình chăm sóc thai kỳ tiêu chuẩn. Sau lần đến khám đầu tiên, trong vòng 6 tháng đầu tiên của thai kỳ, bạn nên đến gặp bác sĩ khoảng 1 tháng 1 lần. Sau đó, bạn nên lên lịch tái khám mỗi 2 tuần một lần trong tháng thứ 7 và thứ 8 và mỗi tuần 1 lần trong tháng thứ 9. Nếu thai kỳ của bạn trở nên khó khăn hoặc gặp biến chứng, cách điều trị có thể chỉ đơn giản là nằm nghỉ tại giường hoặc có thể làm thủ thuật chọc ối để lấy ra một lượng nhỏ nước ối từ túi ối bao quanh thai nhi để làm xét nghiệm.

Các thai phụ cũng được khuyên nên tiêm ngừa cúm.

Cách chăm sóc tại nhà

  • Chia những bữa ăn lớn ra thành nhiều bữa ăn nhỏ trong suốt thai kỳ. Ăn một bữa ăn cân bằng về chất dinh dưỡng. Bạn có thể tăng từ 11,3kg đến 15,8kg nếu bạn có trọng lượng trung bình. Nếu bạn bị béo phì, có thể bạn sẽ cần phải hạn chế cân nặng, và trong trường hợp này bạn chỉ nên tăng khoảng từ 5kg đến 7kg mà thôi.
  • Không nên ngừng các loại thuốc đã được kê toa trừ phi đã hỏi ý kiến bác sĩ, tuy nhiên bạn cũng nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thuốc nào không được kê toa.
  • Thuốc viên gừng có bán không cần toa tại các nhà thuốc có thể làm giảm triệu chứng buồn nôn khi mang thai. Hãy trao đổi với bác sĩ về những lựa chọn khác.
  • Không hút thuốc, uống rượu hoặc sử dụng các loại thuốc gây nghiện.
  • Tiếp tục tập thể dục với thời khóa biểu bình thường trừ phi được bác sĩ khuyến cáo khác; bảo đảm uống đầy đủ nước khi tập.
  • Có thể quan hệ tình dục tự nhiên và an toàn nếu thai kỳ không có biến chứng.

Thuốc

Do có nhiều loại thuốc không an toàn khi được sử dụng trong thai kỳ, nên điều cực kỳ quan trọng cần nhớ là bạn chỉ nên sử dụng các loại thuốc đã được bác sĩ cho phép. Nếu bác sĩ kê toa cho bạn một loại thuốc mới, bạn nên giải thích với họ là bạn đang có thai và hỏi xem loại thuốc này có an toàn cho thai hay không Ủy Ban Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ liệt kê 5 nhóm nhãn thuốc dùng trong thai kỳ. Bác sĩ hoặc dược sĩ có thể cho bạn lời khuyên dựa trên mức độ an toàn (được biểu hiện bằng nhóm nhãn thuốc) của thuốc trước khi thai phụ sử dụng. Bác sĩ thường dùng các thuốc có nhóm B và C nếu cần phải chứng nhận sử dụng những loại thuốc này. Không phải tất cả các trường hợp thuộc nhóm A đều có thể được sử dụng để điều trị.

  • Nhóm A: độ an toàn được chứng minh dựa vào những nghiên cứu trên người.
  • Nhóm B: được cho là an toàn dựa vào những nghiên cứu trên động vật
  • Nhóm C: không chắc chắn an toàn khi nghiên cứu trên động vật cho những tác dụng bất lợi
  • Nhóm D: không an toàn với bằng chứng nguy cơ có thể biện hộ được trong một số trường hợp lâm sàng.
  • Nhóm X: độ không an toàn cao, khi sử dụng có thể đem lại nguy cơ cao hơn so với bất kỳ lợi ích nào mà nó có thể mang lại.

NGỪA THAI

Có nhiều biện pháp ngừa thai, nhưng không có cách nào trong số chúng cho hiệu quả 100% ngoại trừ không quan hệ tình dục. Những phương pháp hiện đang được sử dụng dưới đây có thể cho hiệu quả rất khác nhau:

  • Triệt sản: cắt ống dẫn tinh ở nam hoặc thắt vòi trứng ở nữ.
  • Ngừa thai bằng hormon: thuốc ngừa thai, miếng dán ngừa thai, vòng ngừa thai.
  • Dụng cụ tử cung (IUD hoặc Mirena)
  • Implanon
  • Màng ngăn âm đạo
  • Mũ che cổ tử cung
  • Bao cao su
  • Chất diệt tinh trùng
  • Xuất tinh ngoài âm đạo
  • Canh ngày: không quan hệ tình dục trong khoảng thời gian người phụ nữ dễ bị thụ thai nhất.
  • Thuốc tránh thai khẩn cấp.

TIÊN LƯỢNG

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của thai kỳ:

  • Cân nặng của mẹ: lượng cân nặng tăng thêm của thai phụ trong thai kỳ có thể là một yếu tố quan trọng giúp tiên đoán tiên lượng của một thai kỳ bình thường
    • Tăng cân quá nhiều có thể làm thai phụ có nguy cơ bị bệnh tiểu đường và tăng huyết áp và có thể tăng nguy cơ phải sinh mổ.
    • Tăng cân quá ít có thể làm thai nhi có nguy cơ bị chậm tăng trưởng và mẹ bị thiếu máu, thiếu dinh dưỡng và loãng xương.
  • Buồn nôn và nôn: Ngay cả khi nếu thai phụ có vẻ như bị nôn nhiều hơn mức bình thường, có thể hiện tượng này không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi, nhất là khi thai phụ đó vẫn tăng cân ở tốc độ bình thường.
  • Mẹ bị đái tháo đường (type 1 và 2): thai phụ bị đái tháo đường hoặc mới bắt đầu bị đái tháo đường trong thai kỳ có thể sinh non, dị tật bẩm sinh hoặc sinh con to.
  • Số lượng hồng cầu thấp hoặc cao: Số lượng hồng cầu có thể thay đổi nhẹ khi được thử ở những phòng xét nghiệm khác nhau, nhưng thông thường vào khoảng 4.2-5.9 triệu tế bào trong mỗi micro lít. Thai phụ bị thiếu máu (số lượng hồng cầu giảm) có thể dẫn đến nguy cơ sinh non. Số lượng hồng cầu giảm cũng có thể tăng nguy cơ phải truyền máu sau khi sinh. Nếu lượng hồng cầu quá cao có thể làm em bé nhỏ hơn bình thường.
  • Mẹ bị béo phì: một người được xem là béo phì khi có chỉ số khối cơ thể (BMI) lớn hơn 30. Nếu một thai phụ bị béo phì và đái tháo đường, con của cô ta sẽ có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh cao gấp 3 lần. Nếu cô ta bị béo phì nhưng không bị đái tháo đường, nguy cơ bị dị tật bẩm sinh sẽ không gia tăng.
  • Tuổi của mẹ: nếu một thai phụ lớn hơn 35 tuổi, con của cô ta sẽ có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh và các biến chứng cao. Mục tiêu của việc tầm soát di truyền là để giúp thai phụ biết được những vấn đề mà cái thai hoặc con của mình có thể gặp phải. Có khoảng 2-3% trường hợp bị dị tật bẩm sinh trong dân số.
  • Thiếu acid folic: một thai phụ bị thiếu acid folic, còn được gọi là folate, có thể dẫn đến dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Dị tật ống thần kinh là sự bất toàn trong sự tạo hình của não và tủy sống thường xảy ra vào vài tuần đầu của thai kỳ; do đó, các sản phụ nên được cung cấp acid folic trước khi thụ thai và trong suốt thai kỳ. Các bác sĩ khuyến cáo rằng những phụ nữ không mang thai nên uống 400mg folate mỗi ngày và những phụ nữ đang mang thai nên uống 600mg folate mỗi ngày.
  • Thiếu DHA: chế độ ăn thiếu docosahexaenoic acid (DHA) trong khi đang mang thai có thể dẫn đến phát triển không hoàn toàn ở các bộ phận như mặt, não và hệ thần kinh trung ương của thai nhi. Những phụ nữ đang mang thai và đang tiết sữa nên được cung cấp 300mg DHA mỗi ngày, DHA có thể tìm thấy ở thịt, cá, trứng, và dầu thực vật.
  • Thiếu acid béo omega-3: thiếu acid béo omega-3 trong khi đang mang thai có thể gây nguy hại cho mẹ và bé. Omega-3 là chất béo đa không bão hòa hỗ trợ sự phát triển của thai nhi và giúp làm giảm nguy cơ bị các biến chứng của thai kỳ. Các thai phụ nên được cung cấp 300mg Omega-3 mỗi ngày trong suốt thời gian mang thai, Omega-3 có thể tìm thấy ở các loài cá nước lạnh, trứng, những loại thực vật có lá màu xanh sẫm.

Nguồn: www.emedicinehealth.com; www.medicinenet.com

Y học NET tổng hợp

Phình động mạch chủ

Phình động mạch chủ

Phình động mạch chủ là tình trạng động mạch chủ, một động mạch chính cung cấp máu cho cơ thể, bị yếu và phình ra ở một khu vực nào đó. Động mạch chủ, có độ dày bằng vòi tưới cây, xuất phát từ tim rồi chạy ra xuyên suốt trung tâm của ngực và bụng. Do động mạch chủ là nguồn cung cấp máu chính cho cơ thể nên khi túi phình động mạch chủ bị vỡ sẽ gây chảy máu nguy hiểm đến tính mạng. Mặc dù có thể bạn chưa bao giờ có bất kỳ một triệu chứng gì nhưng khi phát hiện ra rằng bạn đang bị phình động mạch chủ thì đó là một điều thật sự đáng sợ.

Hầu hết những túi phình nhỏ và phát triển chậm không bị vỡ, nhưng những túi phình lớn, phát triển nhanh thì có thể bị. Tùy thuộc vào kích thước và tốc độ phát triển của túi phình, phương pháp điều trị có thể thay đổi từ theo dõi sát cho đến mổ cấp cứu. Khi phát hiện ra bệnh nhân bị phình động mạch chủ, bác sĩ sẽ theo dõi sát để cho thể chuẩn bị phẫu thuật nếu cần thiết. Phẫu thuật cấp cứu phình động mạch chủ có thể nguy hiểm cho người bệnh.

TRIỆU CHỨNG

Túi phình động mạch chủ thường phát triển chậm và không có triệu chứng nên khó phát hiện. Một số túi phình không bao giờ vỡ. Nhiều túi phình khi mới xuất hiện nhỏ và vẫn giữ nguyên kích thước của nó trong khi một số trường hợp khác chúng lại lớn lên theo thời gian. Một số túi phình lớn chậm, tăng dưới 1 -2 cm mỗi năm. Một số khác lại phát triển nhanh làm tăng nguy cơ vỡ. Rất khó tiên đoán được tốc độ lớn của túi phình.

Khi túi phình phát triển, một số bệnh nhân có thể cảm thấy:

  • Cảm giác co giãn theo nhịp đập ở khu vực gần rốn nếu túi phình xuất hiện ở bụng
  • Tăng nhạy cảm hoặc đau ở bụng hoặc ngực.
  • Đau lưng.

Túi phình có thể xuất hiện ở bất cứ đâu dọc theo động mạch chủ nhưng thường xuất hiện ở bụng và được gọi là phình động mạch chủ bụng. Túi phình có thể xuất hiện ở khu vực cao hơn, nằm trong ngực và được gọi là phình động mạch chủ ngực.

Khi nào cần đến gặp bác sĩ

Bạn nên đến gặp bác sĩ nếu có bất kỳ triệu chứng nào đã được kể ở trên.

Bất kỳ ai trong độ tuổi từ 60 trở lên có nguy cơ bị phình động mạch chủ nên được tầm soát thường xuyên về bệnh này. Nam giới từ 65 - 75 tuổi đã từng có hút thuốc nên được tầm soát phình động mạch chủ bụng bằng siêu âm bụng. Nam giới từ 60 tuổi trở lên có tiền sử gia đình (có người thân trong gia đình) bị phình động mạch chủ bụng cũng nên được tầm soát.

Nếu bạn có tiền sử gia đình (có người thân trong gia đình) bị phình động mạch chủ, bác sĩ có thể sẽ khuyên bạn đi siêu âm thường xuyên để tầm soát.

NGUYÊN NHÂN

Phình động mạch chủ bụng

Khoảng 75% trường hợp phình động mạch chủ là xuất hiện ở bụng. Mặc dù nguyên nhân chính xác gây bệnh vẫn chưa được tìm ra nhưng những nhà nghiên cứu cho rằng có một số yếu tố có thể đóng vai trò nào đó trong sự xuất hiện bệnh, bao gồm:

  • Hút thuốc lá: hút thuốc lá ở những dạng khác nhau là một trong những yếu tố đáng kể nhất liên quan đến sự phát triển của túi phình. Ngoài những tác hại trực tiếp mà khói thuốc gây ra cho động mạch, nó góp phần gây xơ vữa động mạchtăng huyết áp, và làm cho túi phình phát triển nhanh hơn.
  • Tăng huyết áp. Đặc biệt là tăng huyết áp không được kiểm soát tốt có thể là tăng nguy cơ phát triển túi phình.
  • Nhiễm trùng động mạch chủ. Ở một số trường hợp hiếm gặp, phình động mạch chủ có thể là do quá trình nhiễm trùng hoặc viêm làm yếu một phần của thành động mạch. Thường có sự xuất hiện một cách có hệ thống của bệnh trong những thành viên trong cùng một gia đình, điều này có nghĩa là nó có thể có tính chất di truyền.

Phình động mạch chủ ngực

Khoảng 25% trường hợp túi phình xuất hiện ở ngực. Ngoài những yếu tố nguy cơ giống với phình động mạch chủ bụng được liệt kê ở trên, có thêm một số yếu tố khác cũng có thể dẫn đến phình động mạch chủ ngực bao gồm:

  • Hội chứng Marfan. Những người bị hội chứng Marfan khi vừa mới sinh ra, là một hội chứng di truyền ảnh hưởng đến mô liên kết của cơ thể, đặc biệt có nguy cơ bị phình động mạch chủ ngực. Những người bị hội chứng Marfan có thành động mạch chủ yếu dẫn đến dễ bị phình hơn. Những người bị hội chứng Marfan thường có những đặc điểm dễ nhận thấy như: vóc người cao, tay rất dài, biến dạng xương lồng ngực và vấn đề về mắt.
  • Đã từng bị tổn thương động mạch chủ trước đó. Bạn sẽ dễ bị phình động mạch chủ ngực nếu trước đây động mạch chủ của bạn đã từng gặp vấn đề, chẳng hạn như rách thành động mạch chủ (bóc tách động mạch chủ).
  • Chẩn thương. Một số người bị chấn thương do ngã hoặc tai nan giao thông có thể dễ bị phình động mạch chủ ngực.

Phình động mạch chủ khác với bóc tách động mạch chủ. Bóc tách động mạch chủ thường xảy ra ở cùng vị trí thường xuất hiện túi phình. Đối với bóc tách động mạch chủ, một vết rách xuất hiện trên thành động mạch chủ dẫn đến chảy máu vào và dọc theo thành động mạch, và ở một số trường hợp máu chảy hẳn ra ngoài động mạch chủ (vỡ). Bóc tách động mạch chủ là một tình trạng đe dọa tính mạng.

YẾU TỐ NGUY CƠ

Yếu tố nguy cơ của phình động mạch chủ bao gồm:

  • Tuổi: phình động mạch chủ bụng thường gặp ở những người trên 60 tuổi.
  • Thuốc lá. Thuốc lá là một yếu tố nguy cơ lớn gây phát triển túi phình. Bạn hút hay nhai thuốc càng lâu thì nguy cơ càng tăng lên.
  • Tăng huyết áp. Tăng huyết áp làm tổn thương các mạch máu trong cơ thể gây tăng nguy cơ phát triển túi phình.
  • Xơ vữa động mạch. Sự tích tụ chất béo và những chất khác có thể làm tổn thương niêm mạc các mạch máu tăng nguy cơ phình.
  • Nam giới. Nam giới bị phình động mạch chủ nhiều hơn nữ giới từ 5 đến 10 lần. Tuy nhiên, phụ nữ nếu bị phình thì có nguy cơ vỡ cao hơn nam.
  • Chủng tộc. Người da trắng dễ bị phình động mạch chủ hơn các chủng tộc khác.
  • Tiền sử gia đình. Những người có tiền sử gia đình bị phình động mạch chủ cũng bị gia tăng yếu tố nguy cơ mắc bệnh. Những người này có khuynh hướng dễ mắc bệnh khi còn trẻ và có nguy cơ bị vỡ cao.

BIẾN CHỨNG

Rách thành động mạch và vỡ là những biến chứng chính của phình động mạch chủ bụng. Vỡ túi phình động mạch chủ có thể gây xuất huyết nội đe dọa tính mạng. Thông thường thì túi phình càng to, nguy cơ vỡ càng lớn.

Dấu hiệu và triệu chứng báo hiệu túi phình bị vỡ:

  • Đau bụng, ngực, lưng xuất hiện đột ngột, dữ dội và kéo dài.
  • Đau lan ra sau lưng và xuống chân.
  • Vã mồ hôi
  • Lạnh ẩm
  • Hoa mắt, chóng mặt
  • Hạ huyết áp
  • Mạch nhanh
  • Mất ý thức
  • Thở nông

Những biến chúng khác của phình động mạch chủ là nguy cơ bị huyết khối. Huyết khối nhỏ có thể phát triển ở khu vực có túi phình. Nếu cục huyết khối bị bong ra khỏi thành của túi phình nó có thể di chuyển đến để làm nghẽn các mạch máu ở những vị trí khác trong cơ thể, nó có thể gây đau hoặc chặn không cho máu đến nuôi chân, ngón chân hoặc những cơ quan bên trong bụng.

CHUẨN BỊ ĐI KHÁM BỆNH

Do nhiều trường hợp phình động mạch chủ thường được phát hiện khi khám sức khỏe định kỳ hoặc khi bác sĩ đang khám để tìm một bệnh khác nên không cần thiết phải chuẩn bị đặc biệt gì khi đi khám. Nếu bạn đang được tầm soát phình động mạch chủ, bác sĩ sẽ có thể hỏi xem có ai trong gia đình bạn bị phình động mạch chủ hay không, do đó, hãy chuẩn bị thông tin này để trả lời.

Bạn nên hỏi bác sĩ về kích thước túi phình của mình và ông/bà ta có nhận thấy sự thay đổi gì ở nó hay không, và số lần tái khám mà bạn nên thực hiện nếu như bác sĩ không đề cập đến những vấn đề trên.

Nếu bạn được siêu âm bụng để chẩn đoán phình động mạch chủ, bác sĩ có thể sẽ nói rằng bạn cần phải nhịn ăn hoặc uống bất kỳ thứ gì trong vòng 9 đến 12 giờ trước khi siêu âm. Hầu hết các trường hợp sẽ được siêu âm vào buổi sáng nên ngày hôm trước bạn có thể ăn sớm hơn một chút là được.

KHÁM VÀ CHẨN ĐOÁN

Hầu hết các trường hợp phình động mạch chủ bụng được phát hiện khi bệnh nhân đến khám vì một lý do khác. Chẳng hạn như trong khi khám sức khỏe tổng quát, bác sĩ sẽ cảm thấy có một túi đập theo nhịp mạch ở bụng bệnh nhân mặc dù có thể bác sẽ không thể nghe thấy các dấu hiệu của phình qua ống nghe. Phình động mạch chủ thường được tìm thấy trong khi thực hiện các nghiệm pháp cận lâm sàng khi khám sức khỏe tổng quát, chẳng hạn như chụp X quang ngực hoặc siêu âm tim hay bụng, đôi khi được thực hiện vì một lý do khác.

Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị phình động mạch chủ, một số nghiệm pháp đặc biệt sẽ được sử dụng để xác nhận lại, bao gồm:

  • Siêu âm bụng. Có thể giúp chẩn đoán phình động mạch chủ bụng. Khi siêu âm, bạn sẽ được nằm ngửa trên bàn khám, một ít gel ấm sẽ được bôi lên bụng. Gel sẽ giúp loại ra sự hình thành các bóng khí giữa cơ thể và dụng cụ mà kỹ thuật viên dùng để quan sát động mạch chủ được gọi là đầu dò siêu âm. Kỹ thuật viên sẽ ấn đầu dò sát da trên bụng và di chuyển nó từ nơi này sang nơi khác. Đầu dò sẽ gửi hình ảnh đến màn hình máy vi tính để có thể kiểm tra được nguy cơ phình.
  • CT scan. Có thể giúp bác sĩ có được một hình ảnh rõ ràng của động mạch chủ. Khi chụp CT, bạn sẽ nằm trên một bàn ở phía trong một cỗ máy có hình giống chiếc bánh rán. Đầu dò bên trong máy sẽ đo được lượng tia X đi xuyên qua cơ thể bạn đến tiếp xúc với nó và chuyển thành tín hiệu điện tử. Máy vi tính sẽ thu thập những tín hiệu này và chuyển chúng thành thang màu từ đen đến trắng tùy thuộc và đậm độ của tín hiệu. Máy vi tính sẽ tập hợp các hình ảnh này lại và hiển thị chúng ra màn hình.
  • Cộng hưởng từ (MRI - Magnetic resonance imaging). MRI cũng là một xét nghiệm không gây đau. Hầu hết các máy MRI chứa một lõi nam châm có hình dạng như chiếc bánh rán hoặc hình ống. Bạn được đặt nằm trên một chiếc bàn có thể di chuyển được và trượt dần vào ống. Từ trường sẽ làm cho các mảnh nguyên tử sắp thẳng hàng trong một số tế bào trong cơ thể. Khi sóng radio được truyền đến các mảnh nguyên tử được sắp thẳng hàng này, chúng sẽ tạo ra những tín hiệu khác nhau tùy thuộc vào loại mô của nó. Bác sĩ có thể sử dụng hình ảnh tạo ra từ những tín hiệu này để xác định xem bạn có bị phình hay không.

Tầm soát định kỳ cho những người có nguy cơ phình động mạch chủ bụng.

Do phình động mạch chủ thường không gây ra triệu chứng gì nên bất kỳ ai trên 60 tuổi và có yếu tố nguy cơ đều nên được tầm soát thường xuyên. Nam giới từ 65 - 75 tuổi đã từng có hút thuốc nên được khám tầm soát phình động mạch chủ bụng qua siêu âm bụng. Nam giới trên 60 tuổi có tiền sử gia đình bị phình động mạch chủ bụng cũng nên được khám tầm soát.

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu điều trị là ngăn không cho túi phình bị vỡ. Thông thường các lựa chọn điều trị sẽ là quan sát và chờ đợi hoặc phải phẫu thuật. Quyết định phụ thuộc vào kích thước của túi phình và tốc độ lớn của nó. Dưới đây là một số hướng dẫn chung trong điều trị phình động mạch chủ bụng:

  • Túi phình nhỏ. Nếu túi phình nhỏ - có đường kính khoảng 4cm trở xuống - và không có triệu chứng, bác sĩ có thể sẽ đề nghị theo dõi hơn là phẫu thuật. Thông thường, các túi phình nhỏ không cần thiết phải phẫu thuật do nguy cơ của cuộc phẫu thuật lớn hơn nguy cơ vỡ.

Nếu bạn chọn cách này, bác sĩ sẽ theo dõi túi phình bằng siêu âm định kỳ, thường là mỗi 6 đến 12 tháng, và khuyến khích bạn thông báo ngay lập tức nếu như bạn bắt đầu thấy nhạy cảm ở thành bụng hoặc đau lưng - là những dấu hiệu nguy cơ của bóc tách hoặc vỡ.

  • Túi phình trung bình. Có kích thước từ 4 - 5.5cm. So sánh nguy cơ giữa hai lựa chọn: phẫu thuật và theo dõi trở nên không rõ ràng. Bạn sẽ phải cần thảo luận với bác sĩ về những lợi ích và nguy cơ giữa theo dõi và phẫu thuật để có thể tìm ra được lựa chọn tốt nhất.
  • Túi phình lớn hoặc phát triển nhanh. Nếu túi phình lớn (lớn hơn 5.5cm), hoặc phát triển nhanh (trên 0.5cm trong vòng 6 tháng), rò rỉ, căng hoặc đau, có thể bạn sẽ cần phải phẫu thuật. Phẫu thuật để điều trị phình động mạch chủ bao gồm việc cắt bỏ vùng bị tổn thương trên động mạch chủ và thay thế nó bằng một ống nhân tạo được khâu vào tại chỗ. Phẫu thuật này cần phải mở bụng hoặc mở ngực và có thể mất đến 6,7 tháng để hồi phục hoàn toàn.

Bạn cũng có thể thực hiện một cuộc phẫu thuật ít xâm lấn hơn bằng cách can thiệp nội mạch. Bác sĩ sẽ gắn ống ghép nhân tạo vào đầu tận của một ống nhỏ (catheter) được đặt vào động mạch ở chân và luồn đến động mạch chủ. Ống ghép - ống được phủ bằng lưới kim loại - được đặt ở vị trí túi phình và được giữ chặt lại bằng những đinh ghim hoặc móc nhỏ. Ống ghép sẽ gia cố cho khu vực bị yếu của động mạch chủ để ngăn không cho túi phình bị vỡ.

Thời gian phục hồi cho những bệnh nhân được phẫu thuật can thiệp nội mạch ngắn hơn so với bệnh nhân phải mở ngực hoặc mở bụng - từ 1 đến 2 tuần so với 6 tuần đối với mổ hở. Các nghiên cứu cho thấy rằng những người được can thiệp nội mạch cũng có tỷ lệ tử vong và biến chứng do túi phình thấp hơn.

Điều trị phình động mạch chủ ngực

Nếu bạn bị phình động mạch chủ ngực, thường sẽ được phẫu thuật nếu như kích thước túi phình vào khoảng 5.5cm hay lớn hơn. Nếu bạn bị hội chứng Marfan hoặc có tiền sử gia đình bị bóc tách động mạch chủ, bác sĩ sẽ khuyên bạn nên phẫu thuật ngay cả khi túi phình có kích thước nhỏ hơn giá trị trên.

Đối với những người bị hội chứng Marfan, thuốc chẹn beta cũng được chứng minh là có tác dụng làm chậm lại tiến trình phát triển của túi phình động mạch chủ ngực.

Phẫu thuật cấp cứu

Mặc dù có thể sửa chữa túi phình vỡ trong một cuộc mổ cấp cứu nhưng nguy cơ của nó sẽ cao hơn rất nhiều và bệnh nhân có rất ít cơ hội sống sót. Nhiều bệnh nhân bị phình động mạch chủ vỡ tử vong trước khi họ đến được bệnh viện.

Có nên điều trị ngoại khoa đối với phình động mạch chủ ngực hay không phụ thuộc vào bạn có bị những bệnh nào khác không, chẳng hạn như hội chứng Marfan, và vị trí của túi phình.

PHÒNG NGỪA

Không có thuốc nào có thể dùng để phòng ngừa phình động mạch chủ. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng các thuốc thuộc nhóm statin và một số loại kháng sinh có thể làm chậm lại tiến tình phát triển của túi phình động mạch chủ. Ngoài ra cũng có một số bằng chứng cho thấy thuốc chẹn thụ thể angiotensin losartan (Cozaar) có thể phòng ngừa được sự hình thành của túi phình.

Hiện nay các phòng ngừa phình động mạch chủ tốt nhất là giữ cho các mạch máu của bạn ở tình trạng khỏe mạnh nhất có thể. Điều đó có nghĩa là hãy thực hiện một số bước sau:

  • Kiểm soát huyết áp tốt.
  • Không hút thuốc lá
  • Tập thể dục thường xuyên
  • Giảm cholesterol và chất béo trong bữa ăn.

Đặc biệt quan trọng là bỏ dùng thuốc lá do hút hoặc nhai thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ túi phình phát triển.

Nếu bạn có một số nguy cơ phình động mạch chủ, hãy trao đổi với bác sĩ. Nếu bạn đang có nguy cơ, bác sĩ sẽ tư vấn thêm một số biện pháp cộng thêm bao gồm thuốc để làm hạ huyết áp và giải tỏa áp lực trên các động mạch bị yếu. Bạn cũng có thể cần phải siêu âm tầm soát mỗi vài năm một lần.

Theo Mayo Clinic - Y học NET dịch

Wednesday, July 28, 2010

CHẤM DỨT THAI KỲ BẰNG THUỐC

-Hiện nay, có trên 15 quốc gia chính thức chấp nhận việc chấm dứt thai kỳ bằng thuốc, nhất là sau khi hiệu quả của mifepriston được chứng minh vào năm 1982. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, các thủ thuật nạo hút sản khoa thường được dùng nhiều hơn, nhưng những thủ thuật này ít thành công trong những trường hợp thai dưới 7 tuần tuổi. Khi ấy việc dùng thuốc để chấm dứt thai kỳ tỏ ra an toàn hơn. Ở đây, đề cập một số hiểu biết hiện nay về việc chấm dứt thai kỳ bằng thuốc trong giai đoạn sớm của ba tháng đầu.

TÁC DỤNG SINH LÝ CỦA THUỐC LÀM SẨY THAI

Sau khi phóng noãn chừng 6-10 ngày, nếu được thụ tinh, trứng sẽ làm ổ trong nội mạc tử cung. Hiện tượng này cần đến tác động của progesteron để phiên mã các gen tham gia quá trình làm ổ. Progesteron cũng ức chế sự co thắt cơ trơn tử cung. Các thuốc được dùng để chấm dứt thai kỳ tác động bằng cách ức chế tổng hợp progesteron, gây co cơ tử cung, đối kháng tác dụng progesteron hoặc ức chế sự phát triển dưỡng bào.

- Ức chế tổng hợp progesteron-

Các phân tử steroid được thay đổi cấu trúc, như epostan, và các chất ức chế cạnh tranh với enzym 3b-hydroxysteroid dehydrogenase ở buồng trứng và nhau, như trilostan, có tác dụng ức chế tổng hợp progesteron từ tiền chất của nó là pregnenolon.

- Gây co cơ tử cung

Prostaglandin và oxyocin kích thích co thắt tử cung bằng cách gắn với thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào cơ trơn tử cung. Tác dụng này làm lưới nội bào tương tăng sản xuất calci, do đó làm tử cung co thắt.

- Ðối kháng tác dụng của progesteron

Chất đối kháng progesteron (kháng-progestin) được phát triển đầu tiên là mifepriston, còn được gọi là RU 486 hoặc RU 38486, có ái tính kết gắn với thụ thể progesteron mạnh gấp 5 lần so với progesteron. Hợp chất này ức chế sự phiên mã, làm giảm số lượng gen lệ thuộc progesteron, gây hoại tử màng rụng và bong phôi. Kháng-progestin còn tác động trên mạch máu nội mạc làm hỏng phôi. Những chất này làm tăng co tử cung bằng cách tăng tính kích thích của tế bào cơ trơn tử cung, và còn làm mở cổ tử cung.

- Ức chế sự phát triển dưỡng bào

Methotrexat, chất đối kháng acid folic, ngăn chận sự tổng hợp DNA. Các tế bào đang tăng sinh đều nhạy cảm với methotrexat, vốn thường dùng để trị ung thư nhau và thai ngoài tử cung.

SỬ DỤNG THUỐC ÐỂ CHẤM DỨT THAI KỲ

Chấm dứt thai kỳ bằng thuốc chỉ được xem là thành công khi tống xuất được phôi thai mà không cần can thiệp ngoại khoa. Phương pháp này không được khuyên dùng sau tuần 9 của thai kỳ vì dễ thất bại và gây xuất huyết tử cung. Do đó việc xác định tuổi thai qua siêu âm rất cần thiết. Ngoài ra, với phương pháp này, sản phụ phải thường đến khám hơn phương pháp nạo phá thai bằng thủ thuật sản khoa. Dưới đây là các thuốc thường được dùng.

EPOSTAN

Có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp với prostaglandin E2 (đặt âm đạo) đối với các trường hợp thai dưới 56 ngày. Liều dùng là 200 mg mỗi 6-8 giờ trong 7 ngày. Tỉ lệ thành công chỉ 84% nhưng gây buồn nôn ở 86% số sản phụ. Vì thế, epostan không được FDA công nhận sử dụng trong chỉ định này.

PROSTAGLANDIN-

Hiện nay chỉ sử dụng các hợp chất prostaglandin E2 tổng hợp như misoprostol và gemeprost. Misoprostol tương đối rẻ, có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng, và hiện được dùng tại nhiều nước để đề phòng và điều trị loét dạ dày do thuốc kháng viêm không-steroid. Trái lại, gemeprost chỉ có dạng thuốc đặt âm đạo, đắt tiền, cần bảo quản trong tủ lạnh. Thuốc này không được chấp nhận sử dụng tại Hoa Kỳ.-

Hiệu quả: Thuốc dùng đường uống kém hiệu quả hơn thuốc đặt âm đạo. Những nghiên cứu với misoprostol khi uống liều 800-2400 mg cho thấy kết quả gây sẩy thai hoàn toàn đạt từ 22% đến 94%, tỉ lệ thành công không lệ thuộc liều dùng và tuổi thai. Ngâm ướt viên nén misoprostol để đặt âm đạo cũng không cải thiện được kết quả.

Gemeprost đặt âm đạo với liều 1 mg (nếu cần mỗi 3 giờ có thể đặt thêm một liều, tối đa là 5 liều) cho kết quả thành công ở 97% số sản phụ có thai dưới 56 ngày. Nếu dùng liều 1 mg đặt âm đạo mỗi 6 giờ (tối đa 3 liều) thì tỉ lệ thành công chỉ 87%.

Tác dụng phụ: Prostaglandin có nhiều tác dụng phụ (đau bụng, chóng mặt, buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, rét run và nổi mẩn). Thường phải giảm đau bằng thuốc giảm đau họ á phiện (53% số BN dùng gemeprost tổng liều 5 mg phải dùng thuốc giảm đau, so với 16% khi dùng tổng liều 3 mg), nên sản phụ cần ở lại bệnh viện để theo dõi. Khi dùng misoprostol, thời gian ra huyết trung bình là 11 ngày, so với 14 ngày khi dùng gemeprost.

Những trường hợp dùng misoprostol thất bại có thể gây các dị tật bẩm sinh cho thai (thiếu da đầu hoặc xương sọ, liệt các dây thần kinh sọ, hoặc dị tật chi dưới) mà nguyên nhân có thể do tăng áp suất buồng tử cung (vì co cơ tử cung) hoặc co mạch. Vì có nhiều tác dụng phụ nên prostaglandin thường được dùng liều thấp và phối hợp với mifepriston hoặc methotrexat.

METHOTREXAT + PROSTAGLANDIN-

Phối hợp hai thuốc này rất có hiệu quả trong việc chấm dứt thai kỳ. Methotrexat thường được tiêm bắp với liều 50 mg/m2 diện tích da. Dùng đường uống (liều duy nhất 25 mg hoặc 50 mg) cũng có hiệu quả. Sau đó 3-7 ngày, đặt âm đạo 800 mg misoprostol.

Hiệu quả: Nếu tuổi thai dưới 56 ngày, dùng phối hợp methotrexat và misoprostol có tỉ lệ thành công từ 84-97%, tính từ khi dùng methotrexat cho đến 24 giờ sau khi đặt misoprostol hoặc muộn hơn. Khoảng 12-35% số sản phụ bị sẩy thai muộn 20-30 ngày sau khi dùng misoprostol.

Tác dụng phụ: Xuất độ các tác dụng phụ khi dùng phác đồ này thay đổi tùy nghiên cứu. Thường gặp là các triệu chứng sốt và rét run (8-60%), tiêu chảy (3-52%), buồn nôn (2-25%). Khoảng 40-90% số sản phụ báo cáo phải cần đến thuốc giảm đau. Ngoài ra, có 5% số trường hợp bị viêm loét miệng do methotrexat.

Thời gian trung bình ra huyết âm đạo từ 10-17 ngày. Trong một nghiên cứu (Wiebe, 1997), có 4% số sản phụ phải can thiệp ngoại khoa vì xuất huyết nhiều. Metho-trexat có thể gây dị dạng trên thai (chi ngắn, thiếu ngón) và cần theo dõi kỹ bằng siêu âm sau khi dùng thuốc vì có 1-10% số thai vẫn phát triển.

KHÁNG-PROGESTIN + PROSTAGLANDIN

Kháng-progestin được nghiên cứu nhiều nhất là mifepriston (200-600mg). Prostaglandin thường được dùng sau liều mifepriston 48 giờ, với gemeprost (1 mg đặt âm đạo) hoặc với misoprostol (uống liều duy nhất 400-600 mg hoặc dùng liều đầu 400 mg rồi dùng thêm 200 mg sau 2-3 giờ nếu chứa sẩy thai; hoặc đặt âm đạo 800 mg). Một nghiên cứu (Baird và cs., 1995) cho thấy tỉ lệ thai tiếp tục phát triển cao hơn khi uống misoprostol so với gemeprost đặt âm đạo.

Hiệu quả: Ðô- với thai - 7 tuần, tỉ lệ thành công khi dùng phối hợp mifepriston và prostaglandin là 92-98%. Ðối với thai từ 7-9 tuần, tỉ lệ thành công khi phối hợp với misoprostol dạng uống (77-95%) thấp hơn so với khi phối hợp với gemeprost hoặc misoprostol đặt âm đạo (94-
97%). Sẩy thai xảy ra trong vòng 4 giờ sau khi dùng misoprostol được ghi nhận ở 44-77% số sản phụ. Có hai nghiên cứu dùng mifepriston + misoprostol dạng uống cho thấy xuất độ thai tiếp tục phát triển tăng dần theo tuổi thai (Spitz và cs., 1998; và Aubeny và cs., 1995), nhưng không thấy sự kết hợp đó khi dùng mifepriston + gemeprost.-

Tác dụng phụ: Nghiêm trọng nhất là ra huyết âm đạo nhiều, nhưng chỉ có 0,1% số trường hợp cần truyền máu. Lượng máu mất từ 84-101 ml, so với 53 ml khi dùng thủ thuật sản khoa. Thời gian ra huyết khoảng 8-17 ngày. Dùng methotrexat hoặc thuốc ngừa thai không có hiệu quả rút ngắn thời gian ra huyết.

Tác dụng phụ hay gặp nhất là đau bụng và gò tử cung, nhiều trường hợp phải dùng một hoặc nhiều thuốc giảm đau. Các tác dụng phụ khác ở đường tiêu hóa do prosta-glandin là buồn nôn (34-72%), ói mửa (12-41%), tiêu chảy (3-26%). Hiếm gặp hơn là nhức đầu, chóng mặt, đau lưng, mệt mỏi. Xuất độ viêm nội mạc tử cung thấp hơn khi phá thai bằng thủ thuật sản khoa. Misoprostol có thể đi kèm với các dị tật bẩm sinh ở người như đã nên ở trên.

Chống chỉ định: Mifepriston và prostaglandin bị chống chỉ định cho những sản phụ phải dùng liệu pháp corticoid dài ngày (hen suyễn, suy thượng thận). Phải thận trọng khi dùng những thuốc này cho BN tiểu đường có biến chứng, thiếu máu nặng, hoặc rối loạn đông máu và BN dùng thuốc chống đông máu. Sulfoproston (một loại prostaglandin) bị chống chỉ định cho phụ nữ trên 35 tuổi bị béo phì, nghiện thuốc lá, hoặc có các yếu tố nguy cơ tim mạch khác vì thuốc dễ gây suy tim trên những đối tượng này. Tuy vậy, đối với mifepriston và gemeprost thì không chống chỉ định cho những đối tượng đó. Khi dùng methotrexat cần tránh dùng thuốc có chứa folat.

Theo Christin-Maitre và cs., Medical termination of pregnancy. N Engl J Med 2000; 342:946-956 (N.T.)

Giải phẫu X quang lồng ngực


Giải phẫu X quang lồng ngực
Bs Nguyễn Quý Khoáng TPHCM
........................................................

Sinh non

Sinh non

Hầu hết các thai kỳ kéo dài khoảng 40 tuần. Sinh non được định nghĩa là khi ngày sinh thật sự xảy ra trước ngày dự sinh hơn 3 tuần.

Sinh non làm thai nhi không có đủ thời gian để phát triển và trưởng thành bên trong tử cung dẫn đến kết quả làm gia tăng nguy cơ gặp nhiều loại bệnh và những bất thường về phát triển khác nhau, bao gồm khó thở, xuất huyết não. Nếu bạn chuyển dạ quá sớm, bác sĩ có thể sẽ cố tìm cách làm chậm ngày sinh của bạn lại. Ngay cả khi không thể tránh được sinh non, được ở lại thêm vài ngày nữa bên trong tử cung có thể cải thiện một cách đáng kể sự phát triển của thai nhi.

Mặc dù tỷ lệ sinh non có vẻ như ngày càng tăng nhưng có một điều đáng khả quan là một lối sống lành mạnh có thể giúp bạn tiến được một đoạn đường dài trong việc phòng ngừa chuyển dạ sớm và sinh non.

TRIỆU CHỨNG

Phát hiện nhanh những dấu hiệu chuyển dạ trước thời hạn có thể giúp bạn phòng ngừa sinh non. Ngay cả khi còn đến vài tháng nữa mới đến ngày sinh nhưng bạn cũng nên chú ý những dấu hiệu sau:

  • Co bóp xảy ra nhiều hơn 8 lần mỗi giờ (bạn sẽ cảm thấy cảm giác căng khít, thắt chặt ở bụng, thường làm gợi nhớ lại những cơn co thắt do kinh nguyệt).
  • Đau lưng nhẹ và âm ỉ.
  • Có cảm giác đè nặng hoặc đau ở khung chậu
  • Tiêu chảy
  • Xuất hiện một vệt máu hoặc chảy máu ở âm đạo.
  • Chảy nước ở âm đạo (có thể đây là dịch ối, là loại dịch bao xung quanh em bé bên trong tử cung).

Nếu bạn lo lắng về những cảm giác này, hãy liên lạc với bác sĩ. Đừng lo lắng vì mình đã lầm lẫn những cơn chuyển dạ giả với những cơn thật sự.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Những nguyên nhân đặc hiệu gây chuyển dạ sớm hoặc sinh non thường không rõ ràng. Tuy nhiên cũng có nhiều yếu tố có thể làm tăng nguy cơ chuyển dạ sớm và sinh non. Những yếu tố nguy cơ thường gặp nhất bao gồm:

  • Đã từng bị chuyển dạ sớm hoặc sinh non trước đây.
  • Sinh đôi, sinh ba, hoặc các loại đa thai khác.
  • Gặp những vấn đề đối với tử cung, cổ tử cung, hoặc nhau thai.
  • Hút thuốc lá, uống rượu, hoặc sử dụng những thuốc gây nghiện.
  • Một số bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng dịch ối và đường sinh dục dưới.
  • Một số bệnh mạn tính như tăng huyết ápđái tháo đường.
  • Nhẹ cân hoặc béo phì trước khi mang thai.
  • Gặp những sự kiện gây stress, chẳng hạn như mất người thân, bạo hành gia đình.
  • Sẩy thai hoặc phá thai nhiều lần.

Vì một lý do nào đó chưa được biết rõ, những phụ nữ da đen dễ bị chuyển dạ sớm và sinh non nhiều gấp 2 lần những phụ nữ thuộc các chủng tộc khác. Nhưng chuyển dạ sớm và sinh non có thể xảy ra với bất kỳ ai. Trong thực tế, có nhiều phụ nữ bị sinh non nhưng không phát hiện ra được yếu tố nguy cơ nào cả.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM

Chăm sóc thai kỳ đúng cách có thể giúp bạn phòng ngừa chuyển dạ sớm và sinh non. Nếu bạn có nguy cơ bị chuyển dạ sớm hoặc sinh non, các bác sĩ có thể khuyên bạn đến khám thai thường xuyên hơn.

Nếu bạn thấy xuất hiện bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của chuyển dạ sớm - chẳng hạn như chảy nước ở âm đạo hoặc cơn co bóp xảy ra thường xuyên hơn 8 lần mỗi giờ - hãy liên lạc với bác sĩ hoặc đến bệnh viện ngay lập tức. Bạn nên giữ những số điện thoại của các địa chỉ trên để có thể tìm thấy được dễ dàng.

KHÁM VÀ CHẨN ĐOÁN

Nếu có vẻ như bạn sắp chuyển dạ sớm, bác sĩ có thể sẽ kiểm tra xem cổ tử cung của bạn có dãn chưa và màng ối đã bị vỡ chưa. Thời gian và khoảng nghỉ của các cơn co bóp sẽ được theo dõi sát. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể sẽ dùng siêu âm để theo dõi độ dài của cổ tử cung. Bác sĩ sẽ lấy một miếng gạc lau cổ tử cung rồi kiểm tra xem có sự hiện diện của fibronectin thai nhi bên trong không, là một lớp mô có dạng giống keo bị thải ra ngoài trong khi sinh.

Nếu bạn chuyển dạ sớm, bạn và bác sĩ có thể sẽ phải trao đổi với nhau về nguy cơ và lợi ích của việc thử chấm dứt chuyển dạ.

BIẾN CHỨNG

Chuyển dạ sớm và sinh non có thể gây ra nhiều biến chứng.

Đối với mẹ

Ngoài việc bắt đầu quá sớm, chuyển dạ sớm thường tương tự như một cuộc chuyển dạ bình thường. Tuy nhiên, các cách điều trị được sử dụng để làm chậm quá trình sinh nở lại có thể tiềm ẩn nguy cơ. Các loại thuốc làm ngừng co cơ tử cung có thể gây tích tụ dịch bên trong phổi làm bạn bị khó thở. Những tác dụng phụ khác tùy thuộc vào loại thuốc được sử dụng để làm ngừng chuyển dạ. Một số loại thuốc có thể gây mệt mỏi và yếu cơ. Một số loại thuốc khác có thể làm tim đập nhanh, bất thường đường huyết, nhức đầu, chóng mặt, hoặc buồn nôn.

Bác sĩ có thể sẽ cân nhắc giữa những nguy cơ tiềm ẩn của thuốc được sử dụng để chấm dứt thai kỳ với nguy cơ cho em bé nếu được sinh ra quá sớm.

Đối với em bé

Các nguy cơ của sinh non thay đổi tùy thuộc vào trẻ được sinh sớm ở mức độ nào. Mặc dù những trẻ được sinh sớm vào khoảng tuần thứ 23 đến 26 vẫn có khả năng sống nhưng những trẻ sinh sớm nhất sẽ gặp những nguy cơ lớn nhất.

Các biến chứng của sinh non có thể bao gồm:

  • Khó thở
  • Có những giai đoạn ngừng thở
  • Chảy máu bên trong não (xuất huyết nội sọ)
  • Tích tụ dịch bên trong não (não úng thủy)
  • Liệt não và những vấn đề thần kinh khác.
  • Các vấn đề về thị giác
  • Các vấn đề của ruột
  • Chậm phát triển
  • Không có khả năng học

Những biến chứng ít nghiêm trọng hơn có thể bao gồm:

  • Vàng da và vùng tròng trắng của mắt.
  • Thiếu hồng cầu
  • Huyết áp thấp

Ở một số trẻ được sinh non, những khó khăn có thể sẽ không xuất hiện cho đến mãi sau này hay thậm chí có thể xuất hiện khi đã trưởng thành. Học không tốt ở trường thường là rắc rối gây quan tâm chính ở những trẻ sinh non. Một số nghiên cứu cho thấy trẻ có thể sẽ phải đối mặt với sự gia tăng nguy cơ bị đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch khi lớn lên.

Nhưng không phải tất cả các trẻ sinh non đều gặp vấn đề. Nếu trẻ được sinh vào khoảng 28 đến 30 tuần thì nguy cơ bị những biến chứng nghiêm trọng sẽ thấp hơn rất nhiều. Và đối với trẻ được sinh ra từ tuần lễ thứ 32 đến 36 thì hầu hết các vấn đề liên quan đến sinh non đều chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn.

ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC LOẠI THUỐC

Quá trình điều trị có thể tập trung vào những phụ nữ đang chuyển dạ sớm hoặc ở những trẻ sơ sinh sau khi được sinh ra.

Đối với mẹ

Nếu bạn bị chuyển dạ sớm, cách điều trị tùy thuộc vào bạn đang ở trong giai đoạn nào của thai kỳ và cơn chuyển dạ đã diễn tiến đến mức nào rồi. Đôi khi chỉ cần nghỉ ngơi là đủ để làm ngừng các cơn co bóp của tử cung.

Nếu bạn không bị co bóp nhưng cổ tử cung lại mở, có thể bạn cần phải phẫu thuật để buộc vòng cổ tử cung để phòng ngừa sinh non. Khi phẫu thuật, cổ tử cung sẽ được khâu đóng lại bằng những sợi chỉ chắc chắn. Những sợi chỉ này sẽ được lấy đi vào tháng cuối cùng của thai kỳ.

Trong những trường hợp khác, bác sĩ có thể sẽ khuyên bạn dùng thuốc. Một số loại thuốc có thể làm ngừng co bóp bằng cách làm dãn các cơ trơn, bao gồm cả cơ tử cung. Một số loại khác ngăn sự sản xuất các chất kích thích tử cung co bóp. Những loại thuốc này có thể được cho bằng cách tiêm tĩnh mạch hay tiêm bắp. Điều không may là thông thường những loại thuốc này chỉ làm ngừng chuyển dạ một thời gian ngắn - có thể đủ ngắn để đạt được những mục tiêu khác như chuyển bệnh nhân đến một cơ sở y tế được trang bị tốt hơn để chăm sóc cho trẻ sinh non.

Nếu thai kỳ đang ở giữa tuần thứ 23 và 34, bác sĩ có thể khuyên bạn tiêm corticoid để tăng tốc độ trưởng thành phổi của thai nhi. Suy tuần thứ 34, có thể không cần sử dụng corticoid nữa do phổi của thai nhi đã trưởng thành hơn.

Ở một nghiên cứu vào năm 2007, thuốc nitroglycerin dùng để điều trị bệnh tim đã cho thấy hứa hẹn làm ngừng chuyển dạ sớm và giảm bệnh tật ở trẻ sơ sinh. Nitroglycerin có thể được hấp thu qua da được cho là có khả năng kéo dài thai kỳ bằng cách làm dãn các cơ trơn của tử cung. Cách nhà nghiên cứu cho rằng nó còn có thể làm tăng lượng máu đế tử cung và nhau. Điều quan trọng cần lưu ý là những loại thuốc khác làm ngưng chuyển dạ cũng có những phát hiện tương tự trong giai đoạn sớm nhưng lại gây thất vọng khi đem áp dụng vào thực tế. Cần phải có thêm những nghiên cứu khác nữa trước khi nitroglycerin trở thành cách thường quy để điều trị những trường hợp chuyển dạ sớm.

Đối với trẻ sơ sinh

Đơn vị chăm sóc tích cực trẻ sơ sinh ở bệnh viện (NICUs - Neonatal intensive care units) được thành lập để chăm sóc suốt ngày đêm những trẻ sinh non và những trẻ sinh đủ tháng nhưng gặp vấn đề về phát triển sau khi sinh. Trong NICU, trẻ có thể sẽ được giữ trong lồng ấp - một cái nôi kín bằng plastic được giữ ấm để giúp trẻ duy trì được nhiệt độ bình thường của cơ thể. Do những trẻ sinh non có da chưa trưởng thành và có rất ít mỡ nên chúng thường cần phải được chăm sóc như vậy để giữ ấm.

Các miếng cảm ứng có thể được dán vào cơ thể trẻ để theo dõi huyết áp, nhịp tim, nhịp thở và nhiệt độ. Các bác sĩ cũng có thể dùng máy giúp thở để hỗ trợ trẻ thở. Thiết bị kỹ thuật cao này có thể ban đầu cho bạn cảm giác hơi quá mức cần thiết nhưng chúng đều được thiết kế để hỗ trợ cho trẻ.

Đầu tiên, trẻ sẽ nhận được chất dinh dưỡng và dịch từ ống đặt trong tĩnh mạch. Sau đó trẻ sẽ được cho uống sữa mẹ qua một ống đặt xuyên qua mũi trẻ xuống đến dạ dày. Khi trẻ đủ khỏe mạnh để có thể bú được, thường có thể cho trẻ bú bằng sữa mẹ hoặc sữa bình. Các kháng thể có trong sữa mẹ đặc biệt quan trọng đối với những trẻ sinh non.

Các bác sĩ có thể sẽ giúp bạn học cách đụng chạm vào trẻ và bế cùng với cho trẻ ăn. Nói chuyện hoặc hát nhẹ nhàng với trẻ, hoặc chỉ đơn giản là im lặng.

Đưa trẻ về nhà

Trẻ sẽ sẵn sàng về nhà nếu như:

  • Có thể thở được không cần sự hỗ trợ
  • Có thể giữ được nhiệt độ ổn định của cơ thể
  • Có thể được nuôi bằng sữa mẹ hoặc sữa bình
  • Tăng cân đều đặn

Các bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn cách chăm sóc trẻ tại nhà. Hãy lưu ý rằng trẻ sinh non dễ bị tổn thương hơn những trẻ sơ sinh đủ tháng khác đối với các bệnh nhiễm trùng, và diễn tiến bệnh của trẻ có khuynh hướng nhanh hơn. Thường xuyên đưa trẻ đi kiểm tra lại. Khoảng thời gian đưa trẻ đi kiểm tra cũng là khoảng thời gian tốt nhất để đặt những câu hỏi về cách chăm sóc trẻ.

PHÒNG NGỪA

Một lối sống lành mạnh có thể tiến một bước xa trong việc phòng ngừa chuyển dạ sớm và sinh non.

  • Chăm sóc trước sinh thường xuyên. Đi khám thai thường xuyên để giúp bác sĩ có thể theo dõi sức khỏe của bạn và sức khỏe của thai nhi. Kể bất cứ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào làm bạn lo lắng, kể cả trong trường hợp chúng có vẻ không quan trọng.
  • Ăn những thức ăn lành mạnh. Khi mang thai, bạn sẽ cần nhiều hơn acid folic, canxi, sắt, protein, và những chất dinh dưỡng cơ bản khác. Dùng vitamin hằng ngày trước sinh - lý tưởng nhất là bắt đầu vài tháng trước khi thụ thai - có thể giúp bổ sung những phần còn thiếu.
  • Kiểm soát những bệnh mạn tính. Nên nhớ rằng những bệnh mạn tính nếu không được kiểm soát chẳng hạn như đái tháo đườngtăng huyết áp có thể làm tăng nguy cơ chuyển dạ sớm. Hãy hợp tác với bác sĩ để giữ những bệnh mạn tính của mình nằm trong tầm kiểm soát.
  • Tuân theo hướng dẫn của bác sĩ về sinh hoạt. Nếu cơ thể bạn xuất hiện những dấu hiệu và triệu chứng của chuyển dạ sớm, bác sĩ sẽ đề nghị bạn làm việc ít hơn hoặc để đôi chân hoạt động ít hơn. Đôi khi cũng cần phải giảm bớt những hoạt động thể lực khác nữa.
  • Tránh những chất nguy cơ. Nếu bạn hút thuốc lá, hãy bỏ hút. Hút thuốc có thể gây chuyển dạ sớm. Rượu và những thuốc tiêu khiển cũng bị cấm. Ngay cả những thuốc phổ thông hoặc những thuốc hỗ trợ cũng cần phải được sử dụng thận trọng. Cần được sự đồng ý của các bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc hoặc thuốc hỗ trợ nào.
  • Hỏi ý kiến bác sĩ về vấn đề quan hệ tình dục. Đó không phải là vấn đề ở những phụ nữ có thai kỳ bình thường. Nhưng có thể sẽ không được quan hệ tình dục nếu bạn có một số biến chứng, chẳng hạn như xuất huyết âm đạo hoặc những vấn đề ở cổ tử cung hoặc nhau thai.
  • Giới hạn căng thẳng. Đặt nó vào một giới hạn chấp nhận được và bám vào nó. Dành một khoảng thời gian yên tĩnh trong ngày. Yêu cầu được giúp đỡ nếu cần thiết.
  • Chăm sóc răng. Đánh răng và dùng chỉ nha khoa mỗi ngày, đi khám nhà sĩ thường xuyên để được chăm sóc và làm sạch răng. Một số nghiên cứu cho rằng những bệnh của lợi có liên quan đến chuyển dạ sớm và sinh non.

Nếu bạn đã từng bị sinh non trước đây hoặc có những yếu tố nguy cơ đáng kể, bác sĩ có thể đề nghị bạn tiêm hormon progesterone mỗi tuần. Mặc dù vẫn còn nhiều điều cần phải tìm hiểu về loại hormon này nhưng những nghiên cứu ban đầu cho thấy progesterone có thể giúp ngăn ngừa chuyển dạ sớm và sinh non ở một số thai phụ.

ĐƯƠNG ĐẦU VÀ NHỮNG SỰ HỖ TRỢ

Chăm sóc trẻ sinh non có thể gây mệt mỏi cả về thể xác và tinh thần. Bạn có thể lo lắng về sức khỏe của con mình và những hậu quả lâu dài của sinh non. Bạn có thể cảm thấy giận dữ, mặc cảm có lỗi hoặc quá tải. Một số đề nghị sau có thể có ích cho bạn trong khoảng thời gian khó khăn này:

  • Tìm hiểu tất cả những gì có thể về tình trạng của con mình. Ngoài việc nói chuyện với bác sĩ, bạn có thể đọc các loại sách về sinh non và tìm kiếm trên Internet.
  • Tự chăm sóc bản thân. Nghỉ ngơi hết mức có thể và ăn uống hợp dinh dưỡng. Bạn sẽ cảm thấy khỏe hơn và có khả năng chăm sóc con tốt hơn.
  • Duy trì nguồn cung cấp sữa. Dùng bơm sữa cho đến khi trẻ có thể bú mẹ được. Hãy hỏi các nhân viên y tế để được giúp đỡ nếu cần thiết.
  • Chấp nhận sự giúp đỡ từ những người khác. Cho phép bạn bè và gia đình giúp đỡ bạn. Họ có thể chăm sóc những đứa con khác của bạn, chuẩn bị thức ăn, lau nhà, hoặc làm những việc lặt vặt. Những điều này giúp bạn giữ được năng lượng để chăm sóc trẻ.
  • Viết nhật ký. Ghi lại những chi tiết về sự phát triển của trẻ cùng với những suy nghĩ và cảm xúc của bạn. Bạn cũng có thể đính kèm hình của bé để có thể nhận thấy sự thay đổi của bé từ tuần này sang tuần khác.
  • Tìm một người biết lắng nghe để được hỗ trợ. Nói chuyện với chồng, bạn bè, gia đình, hoặc người chăm sóc trẻ. Hoặc có thể tìm những người cùng hoàn cảnh với mình. Nhiều bậc cha mẹ cảm thấy thật sự có ích khi nói chuyện với những bậc cha mẹ khác cũng đang chăm sóc trẻ sinh non.

Nên nhớ rằng chăm sóc trẻ sinh non là một thử thách lớn lao.

Theo Mayo Clinic - Y học NET dịch

Girls Generation - Korean