Sunday, August 29, 2010

Sốt

Sốt

Sốt là tình trạng nhiệt độ cơ thể cao hơn mức bình thường. Đây là triệu chứng của nhiều loại bệnh khác nhau.

Mọi người trong chúng ta đều đã từng có lần trải qua cảm giác ớn lạnh và mệt mỏi do sốt gây ra. Sốt thường xảy ra do đáp ứng của cơ thể với sự nhiễm trùng hoặc viêm. Tuy nhiên cũng có thể có nhiều nguyên nhân khác chẳng hạn như do tác dụng của thuốc, chất độc, ung thư, tiếp xúc với nhiệt, tổn thương hoặc bất thường ở não hoặc bệnh của hệ nội tiết.

Hiếm khi sốt xuất hiện một mình mà không kèm theo các triệu chứng khác. Nó thường đi kèm với những triệu chứng đặc hiệu có thể giúp xác định được bệnh gây ra chúng. Điều này sẽ giúp bác sĩ có thể quyết định được cách điều trị cần thiết.

  • Nhiệt độ bình thường của cơ thể có thể thay đổi tùy thuộc vào từng cá nhân, từng thời điểm trong ngày và thậm chí là thay đổi theo thời tiết. Đối với hầu hết mọi người, nhiệt độ cơ bản là 37oC.
  • Thông thường nhiệt độ cơ thể được kiểm soát bởi một vùng của não có tên là vùng hạ đồi. Hạ đồi tương tự như bộ máy điều nhiệt của cơ thể. Nó giữ cơ thể ở nhiệt độ bình thường qua cơ chế nhiệt (chẳng hạn như rùng mình và quá trình trao đổi chất) và cơ chế lạnh (chẳng hạn như vã mồ hôi và dãn các mạch máu ở gần da).
  • Hiện tượng sốt xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể bị kích thích bởi pyrogen (chất gây sốt). Pyrogen thường bắt nguồn từ bên ngoài cơ thể và kích thích cơ thể sản xuất ra những pyrogen bên trong cơ thể. Pyrogen sẽ ra lệnh cho hạ đồi tăng điểm nhiệt của cơ thể lên. Để đáp ứng lại, cơ thể bắt đầu rùng mình, các mạch máu co lại để cố gắng đạt đến điểm nhiệt mới cao hơn nhiệt độ cơ bản.
    • Pyrogen có thể ở bên ngoài cơ thể như:
      • Virus
      • Vi khuẩn
      • Nấm
      • Thuốc
      • Chất độc

NGUYÊN NHÂN

Virus

Nhiễm virus là một trong những nguyên nhân gây sốt thường gặp nhất ở người lớn. Các triệu chứng bao gồm: chảy nước mũi, đau họng, ho, khàn tiếng, và nhức mỏi cơ. Virus cũng có thể gây tiêu chảy, nôn ói hoặc khó chịu ở dạ dày.

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh do virus có thể tự khỏi theo thời gian. Kháng sinh không thể điều trị được virus. Có thể điều trị các triệu chứng bằng những loại thuốc nghẹt mũi, thuốc ho được bán ngoài hiệu thuốc không cần toa bác sĩ. Nếu bị tiêu chảy hoặc nôn ói, bệnh nhân sẽ được khuyến khích uống nước. Có thể cung cấp thêm những chất điện giải bị mất do tiêu chảy hoặc ói bằng cách pha thêm đường và muối vào trong nước uống. Nếu vẫn không giữ nước được bên trong cơ thể, có thể cần phải gọi bác sĩ. Bệnh có thể kéo dài 1 đến 2 tuần.

Tình trạng nhiễm virus influenza có thể diễn ra hằng năm và là nguyên nhân chính gây tử vong và bệnh năng cho những người cao tuổi. Các triệu chứng bao gồm nhức đầu và nhức cơ, khớp cùng với những triệu chứng thường gặp khác của nhiễm virus, trong đó có bao gồm cả sốt. Cần phải tiêm phòng vaccine influenza cho những người trên 50 tuổi và bất kỳ ai có nguy cơ tiếp xúc với loại virus này. Ngoài ra, có những loại thuốc chống lại influenza ngay lập tức sau khi xuất hiện triệu chứng. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh.

Vi khuẩn

Những bệnh gây sốt do vi khuẩn có thể ảnh hưởng đến hầu hết bất kỳ hệ cơ quan nào trong cơ thể. Bệnh có thể được điều trị bằng kháng sinh.

  • Nhiễm trùng thần kinh trung ương (não và tủy sống) có thể gây sốt, nhức đầu, cứng cổ, hoặc lú lẫn. Bệnh nhân có thể lơ mơ và dễ kích thích, và mắt dễ bị ánh sáng kích thích. Đây có thể là biểu hiện của viêm màng não hoặc nhiễm trùng não, do đó bệnh nhân nên được đưa đến bác sĩ ngay lập tức.
  • Nhiễm trùng đường hô hấp dưới bao gồm viêm phổi và viêm phế quản. Các triệu chứng bao gồm ho, khó thở, khạc đàm đặc và đôi khi đau ngực. Những người có hút thuốc nên ngừng thuốc ngay lập tức. Sốt gây đổ mồ hôi đêm và xuất hiện máu trong đàm đôi khi có thể gợi ý đến bệnh lao. Bất kỳ ai có những triệu chứng trên đều cần phải đến bệnh viện.
  • Nhiễm trùng đường hô hấp trên xảy ra ở họng, tai, mũi và các xoang. Các triệu chứng chảy nước mũi, nhức đầu, đau họng kèm với sốt có thể giúp nghĩ đến một tình trạng nhiễm trùng.
  • Nhiễm trùng hệ niệu-sinh dục có thể làm cho bệnh nhân bị tiểu rát, tiểu máu, tiểu lắt nhắt (có cảm giác muốn đi tiểu thường xuyên) và đau lưng kèm theo với sốt. Đây có thể là những biểu hiện của tình trạng nhiễm trùng ở bàng quang, thận, hoặc đường tiểu. Có thể dùng kháng sinh để điều trị.
  • Nếu hệ sinh dục bị ảnh hưởng, bệnh nhân thường thấy bị chảy dịch ở dương vật hoặc âm đạo và bị đau khung chậu kèm với sốt. Đây có thể là biểu hiện của tình trạng viêm vùng chậu gây tổn thương nghiêm trọng đến cơ quan sinh dục. Trong trường hợp này, bệnh nhân và tất cả các bạn tình nên được bác sĩ khám bệnh.
  • Nhiễm trùng hệ tiêu hóa được biểu hiện bởi các triệu chứng như tiêu chảy, nôn ói, khó chịu ở dạ dày và đôi khí thấy có máu trong phân. Máu trong phân thường biểu hiện tình trạng nhiễm trùng và có thể được điều trị bởi kháng sinh. Đau bụng có thể là do nhiễm trùng ở ruột thừa, túi mật, hoặc gan và bệnh nhân nên đi bác sĩ khám bệnh.
  • Hệ tuần hoàn (bao gồm tim và phổi) cũng có thể bị vi khuẩn tấn công. Có thể sẽ không có những triệu chứng đặc hiệu xuất hiện cùng với sốt. Bệnh nhân có thể cảm thấy nhức mỏi cơ thể, run, yếu người, lú lẫn. Nhiễm trùng huyết khi vi khuẩn xâm nhập vào máu. Nhiễm trùng van tim có thể xảy ra ở những bệnh nhân đã từng phẫu thuật tim và những người dùng thuốc qua đường tĩnh mạch. Tình trạng này cần phải được nhập viện và điều trị tức thời với kháng sinh đường tĩnh mạch.
  • Da, bộ phận lớn nhất của cơ thể, cũng có thể là nguồn gốc của nhiễm trùng. Bệnh nhân có thể bị đỏ, sưng, nóng và chảy mủ hoặc đau ở vùng nhiễm trùng. Nhiễm trùng có thể là kết quả của chấn ở da hoặc thậm chí chỉ là một lỗ chân lông bị nghẹt gây ra abces. Đôi khi khu vực nhiễm trùng cần phải được dẫn lưu. Thường cũng cần sử dụng đến kháng sinh.

Nấm

Nhiễm nấm có thể ảnh hưởng đến bất kỳ hệ cơ quan nào. Thông thường các bác sĩ có thể định bệnh được thông qua thăm khám bệnh nhân. Đôi khi cũng cần phải thực hiện các nghiệm pháp chẩn đoán chuyên sâu hơn. Bệnh thường được điều trị bằng thuốc kháng nấm.

Sốt do tiếp xúc với động vật

Một số người có công việc liên quan đến động vật có thể tiếp xúc với những loại vi khuẩn hiếm gặp có thể gây sốt. Ngoài triệu chứng sốt, bệnh nhân có thể cảm thấy ớn lạnh, nhức đầu, đau cơ và khớp. Những vi khuẩn này có thể tồn tại ở vật nuôi trong nhà, trong những thực phẩm hằng ngày chưa được tiệt trùng và trong nước tiểu của những động vật bị nhiễm bệnh.

Sốt ở những người đi du lịch

Những người đi chơi xa có thể bị sốt do tiếp xúc với những loại thức ăn mới, chất độc, côn trùng hoặc những bệnh có thể ngừa được bằng vaccine.

Trước khi đi du lịch nên chắc chắn rằng những loại vaccin mà bạn được tiêm chủng lúc nhỏ như sởi, quai bị, rubella, bạch hầu, uốn ván, bại liệt vẫn còn tác dụng trên cơ thể bạn. Những vaccine ngừa viêm gan A, viêm màng não, thương hàn nên được tiêm trước khi đi du lịch đến những khu vực có khả năng nhiễm bệnh.

Khi đi du lịch, uống phải nguồn nước bị nhiễm bẩn, rau quả còn sống, hoặc những thực phẩm chưa được tiệt trùng có thể gây sốt nhẹ và tiêu chảy. Có thể dùng Pepto-Bismol, Imodium và một số kháng sinh để điều trị. Những triệu chứng như quặn bụng, nôn ói, nhức đầu và sưng có thể khỏi sau 3-6 ngày. Nếu sốt trên 38.5oC hoặc có máu trong phân, bạn nên đến gặp bác sĩ ngay lập tức.

Vết côn trùng cắn là nguyên nhân gây nhiễm trùng thường gặp ở một số nước. Sốt rét là một bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng có thể xảy ra sau khi bị muỗi cắn. Khi bị cắn, người bệnh sẽ bị sốt và khỏi sau mỗi vài ngày. Cần phải được xét nghiệm máu để chẩn đoán. Ở một số khu vực dịch tễ, khi đi du lịch bạn cần phải mang theo thuốc phòng sốt rét. Bệnh Lyme bị lây nhiễm qua vết cắn của ve. Bất kỳ trường hợp nhiễm trùng nào do côn trùng cắn cũng cần phải được đưa đến bác sĩ.

Sốt do thuốc

Nếu cơn sốt xuất hiện sau khi bắt đầu dùng một loại thuốc mới và không tìm thấy một nguyên nhân gây sốt nào khác thì đó có thể là sốt thuốc. Cơn sốt có thể xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào sau khi bắt đầu dùng thuốc và có thể hết sau khi ngưng thuốc.

  • Kháng sinh thường gây sốt sau một tuần điều trị
  • Một số thuốc tim mạch và chống tai biến có thể gây sốt sau vài tháng điều trị.
  • Cơn sốt có thể xuất hiện tức thời do phản ứng dị ứng với thuốc hoặc do chất bảo quản chứa trong thuốc.
  • Dùng quá nhiều aspirin và hormon giáp có thể làm tăng chuyển hóa và gây sốt.
  • Thuốc kháng histamin, một số thuốc chống trầm cảm và các thuốc an thần giảm đau có thể ngăn không cho thoát nhiệt ra ngoài cơ thể.
  • Cocaine và amphetamine cũng có thể làm tăng hoạt động cơ và gây sốt.

Sốt do huyết khối

Đôi khi huyết khối xuất hiện ở chân có thể gây phù và đau ở vùng bắp chân. Một phần của cục huyết khối này có thể vỡ ra và đi vào phổi gây đau ngựckhó thở. Ngược lại, bệnh nhân có thể bị sốt do viêm các mạch máu. Nếu có bất kỳ triệu chứng nào trên đây, bạn nên đến bệnh viện để được khám.

Sốt do u

Ung thư có thể gây sốt bằng nhiều cách khác nhau. Đôi khi chính khối u sản xuất ra pyrogen tự gây sốt. Một số khối u có thể bị nhiễm trùng. Những khối u ở não có thể ngăn không cho hạ đồi điều hòa nhiệt độ của cơ thể. Nhiều loại thuốc mà bệnh nhân ung thư đang sử dụng có thể gây sốt. Và cuối cùng, hệ miễn dịch ở bệnh nhân bị ung thư có thể yếu đi nên cơ thể giảm khả năng chống đỡ lại với nhiều loại nhiễm trùng.

Sốt do môi trường

Đôi khi thân nhiệt có thể đạt đến mức giới hạn cao khi cơ thể trở nên quá nóng. Tình trạng này được gọi là tăng thân nhiệt. Hiện tượng này thường xảy ra khi tập những môn thể thao nặng hoặc khi cơ thể tiếp xúc với khí hậu nóng hoặc ẩm ướt. Một số loại thuốc thay đổi thói quen cơ thể có thể ngăn không cho cơ thể chống đỡ lại với nhiệt. Những người bị tăng thân nhiệt có thể bị lú lẫn, lơ mơ hoặc thậm chí là hôn mê. Họ có thể có thân nhiệt rất cao và không thể đổ mồ hôi. Cách điều trị tình trạng tăng thân nhiệt khác so với điều trị những nguyên nhân gây sốt khác. Bệnh nhân bị tăng thân nhiệt nên được làm lạnh ngay lập tức.

Những bệnh lý đặc biệt

Nhiều người bị những bệnh làm giảm khả năng hoạt động bình thường của hệ miễn dịch làm cho những tác nhân nhiễm trùng gây sốt có thể xâm nhập vào cơ thể một cách dễ dàng hơn. Tùy thuộc vào từng loại bệnh mà có thể các bác sĩ sẽ cảm thấy khó khăn khi tìm ra nguồn gốc gây sốt. Sốt diễn ra ở những người bị giới hạn khả năng chiến đấu chống lại nhiễm trùng có thể sẽ rất nguy hiểm.

Những nguyên nhân gây suy yếu hệ thống miễn dịch:

  • Ung thư
  • Thuốc trị ung thư
  • Ghép tạng
  • Sử dụng corticoid trong một thời gian dài
  • HIV
  • Lớn hơn 65 tuổi
  • Không có lách
  • Sarcoidosis
  • Lupus
  • Dinh dưỡng kém
  • Đái tháo đường
  • Uống rượu nặng hoặc sử dụng ma túy.

Bất kỳ người nào có một trong số những nguyên nhân trên và bị sốt nên nhanh chóng đến gặp bác sĩ hoặc đến phòng cấp cứu. Điều quan trọng là cần phải được điều trị thích hợp và ngay lập tức. Hành động nhanh chóng có thể sẽ cứu sống được bệnh nhân.


KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH

Thời điểm cần đến gặp bác sĩ:

Sốt có thể do nhiều nguyên nhân. Thường gặp nhất là do nhiễm siêu vi và có thể tự khỏi.

  • Hãy gọi cho bác sĩ nếu những gặp bất kỳ tình huống nào sau đây:
    • Sốt từ 40oC trở lên.
    • Kéo dài trên 7 ngày.
    • Các triệu chứng ngày càng tệ hơn.
  • Hãy gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu như có các triệu chứng sau đi kèm sốt:
    • Lơ mơ hoặc ngủ quá nhiều
    • Cứng cổ
    • Nhức đầu nặng
    • Đau họng
    • Nổi ban
    • Đau ngực
    • Khó thở
    • Nôn ói nhiều lần
    • Đau bụng
    • Có máu trong phân
    • Đau khi đi tiểu
    • Sưng, phù nề chân
    • Da bị sưng, nóng, đỏ
  • Những người bị bệnh nặng như ung thư hoặc HIV có thể không có các dấu hiệu báo động. Do đó nếu xuất hiện những triệu chứng nhẹ cũng cần phải được gặp bác sĩ trước khi bệnh trở nên nặng nề hơn.

Thời điểm cần đến bệnh viện

Một số bệnh xuất hiện cùng với sốt có thể gây đe dọa tính mạng và nếu gặp trường hợp đó, bệnh nhân nên được đưa đến phòng cấp cứu ngay lập tức.

  • Viêm màng não có thể gây đe dọa tính mạng và độ lây nhiễm cao nếu nguyên nhân là một số loại vi khuẩn nhất định. Một người có những triệu chứng sau: sốt, nhức đầu nặng nề, và cổ cứng kết hợp với nhau nên được đưa đến phòng cấp cứu ngay lập tức.
  • Bệnh nhân bị khó thở hoặc đau ngực kèm với sốt cũng nên được đưa đến phòng cấp cứu hoặc gọi xe cấp cứu ngay lập tức.
  • Nếu bị sốt kèm theo có máu trong phân, trong nước tiểu, hay trong đàm, cũng cần phải đến phòng cấp cứu gấp.
  • Một người bị sốt kèm với kích động quá mức hoặc lơ mơ mà không có nguyên nhân rõ ràng nên được chuyển đến phòng cấp cứu.
  • Nếu một người bị suy yếu hệ miễn dịch (Vd: những bệnh nhân bị ung thư hoặc AIDS) nên đến gặp bác sĩ hoặc đến phòng cấp cứu lập tức nếu bị sốt.
  • Tăng thân nhiệt là một tình huống cấp cứu. Hãy gọi xe cấp cứu nếu thân nhiệt của bệnh nhân lên trên 40oC và lơ mơ hoặc không có phản ứng.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Bác sĩ sẽ hỏi bệnh nhân nhiều câu hỏi để cố gắng tìm nguyên nhân gây sốt:

  • Sốt xuất hiện khi nào
  • Có những triệu chứng nào khác xảy ra
  • Tình trạng tiêm chủng của bệnh nhân
  • Có đi du lịch ở đâu trong thời gian gần đây không
  • Có tiếp xúc với người bệnh ở cơ quan hay ở nhà không
  • Những thuốc đang sử dụng hoặc những thuốc bất hợp pháp đang dùng
  • Có tiếp xúc với động vật không
  • Tình trạng tình dục
  • Những lần phẫu thuật gần đây
  • Có bị những bệnh nào khác không
  • Dị ứng

Sau đó bệnh nhân sẽ được khám toàn diện để tìm nguyên nhân gây sốt. Sau khi hỏi và khám bệnh nhân, có thể bác sĩ sẽ tìm ra được nguyên nhân gây sốt, tuy nhiên nếu bác sĩ vẫn chưa chắc chắn, một số xét nghiệm sẽ được thực hiện để giúp chẩn đoán.

  • Xét nghiệm máu để đếm các tế bào bạch cầu
  • Cấy họng tìm streptococus
  • Lấy mẫu đàm
  • Cấy máu
  • Phân tích nước tiểu
  • Lấy mẫu phân
  • Chọc dịch não tủy
  • Chụp X - quang hoặc CT scan
  • Kiểm tra chức năng gan

Dựa vào kết quả của những xét nghiệm trên, bác sĩ thường có thể tìm ra được nguyên nhân gây sốt. Nếu cần thiết, có thể sẽ phải thực hiện thêm những xét nghiệm đặc hiệu hơn.


ĐIỀU TRỊ

Tại nhà

Bạn có thể tự nhận định mình có sốt hay không bằng cách đo nhiệt độ bằng nhiệt kế. Nơi đo nhiệt độ ở người lớn tốt nhất là đặt nhiệt kế vào miệng hoặc trực tràng (dùng nhiệt kế trực tràng).

Thông thường, có thể giảm sốt bằng thuốc ibuprofen hoặc acetaminophen. Cả 2 loại thuốc này đều có thể giúp kiểm soát được triệu chứng đau và sốt. Đôi khi có thể cần phải phối hợp cả 2 loại để dứt điểm cơn sốt.

Aspirin không phải là thuốc lựa chọn đầu tiên để hạ sốt vì nó có thể gây độc nếu dùng ở liều lớn ở người lớn hoặc gây hội chứng Reye ở trẻ nhỏ.

  • Ibuprofen có tác dụng ngăn vùng hạ đồi nâng cao thân nhiệt lên. Nó có dạng thuốc viên 200mg được bán ở các quầy thuốc. Bạn nên uống 1 - 2 viên mỗi 4 giờ để hạ nhiệt. Dùng với liều thấp nhất có thể.
    • Tác dụng phụ của ibuprofen là nôn và buồn nôn, do đó để phòng ngừa, không nên dùng thuốc chung với thức ăn. Những tác dụng phụ hiếm gặp bao gồm tiêu chảy, táo bón, ợ nóng và đau dạ dày. Những người bị loét dạ dày, bệnh thận, phụ nữ mang thai và dị ứng với aspirin nên tránh dùng ibuprofen.
    • Một số tên thương mại thường gặp của ibuprofen bao gồm Advil, Motrin, và Nuprin. Hãy đọc nhãn thuốc để tìm bảng liệt kê thành phần xem có tên ibuprofen được liệt kê trong đó không.
  • Acetaminophen cũng có thể ngăn triệu chứng sốt xảy ra. Nó có dạng thuốc viên 325mg hoặc 500mg được bán ở các quầy thuốc. Dùng 1 - 2 viên mỗi 4 giờ có thể giới hạn được cơn sốt.
    • Rất hiếm gặp tác dụng phụ, nhưng có một số người bị dị ứng với acetaminophen. Nếu dùng một lượng lớn (quá liều) có thể gây suy gan. Do đó, những người bị bệnh gan và nghiện rượu mạn nên tránh sử dụng loại thuốc này.
    • Những tên thương mại thường gặp của acetaminophen là Panadol, Anacin-không-aspirin, Feverall, Genapap, Tempra và Tylenol. Hãy đọc nhãn thuốc để tìm bảng liệt kê thành phần xem có tên acetaminophen được liệt kê trong đó không.
  • Sốt có thể làm cho bạn mất nước rất nặng. Hãy uống thật nhiều nước. Tránh làm lạnh da, điều đó chỉ làm cho bạn khó chịu hơn mà thôi. Ngoài ra chúng còn làm cho bạn run do đó sẽ còn làm thân nhiệt tăng hơn nữa nếu nguyên nhân gây sốt là nhiễm trùng. Hướng điều trị tiếp theo tùy thuộc vào nguyên nhân gây sốt và những triệu chứng kèm theo. Những triệu chứng cảm thông thường có thể được điều trị bằng những thuốc thông dụng được bán tại quầy.
  • Nếu sốt do tiếp xúc với khí hậu nống hoặc vận động quá mức, cách điều trị sẽ rất khác so với những kiểu sốt khác. Acetaminophen và Ibuprofen đều không có tác dụng. Bệnh nhân cần phải được làm lạnh ngay lập tức. Nếu bệnh nhân bị lơ mơ hoặc mất ý thức, hãy gọi xe cấp cứu ngay lập tức. Trong khi chờ đợi, hãy chuyển bệnh nhân ra khỏi nơi nóng bức và cởi bỏ bớt quần áo. Cơ thể có thể được làm lạnh với khăn ẩm, quạt tác động trực tiếp lên cơ thể.

Can thiệp y học

Cách điều trị sốt tùy thuộc vào nguyên nhân của nó. Trong hầu hết các trường hợp, ngoại trừ tăng thân nhiệt, thì acetaminophen hoặc ibuprofen đều có thể làm hạ thân nhiệt. Nên cung cấp thêm dịch cho cơ thể qua đường miệng hoặc tiêm tĩnh mạch để chống mất nước nếu cần thiết.

  • Nhiễm siêu vi có thể tự khỏi. Có thể bệnh nhân sẽ được cho những loại thuốc điều trị những triệu chứng đặc biệt khác. Có thể đó là những loại thuốc làm giảm thân nhiệt, trị nghẹt mũi, giảm đau họng hoặc trị sổ mũi. Virus có thể gây nôn ói và tiêu chảy và cần phải truyền dịch qua đường tĩnh mạch cùng với dùng thuốc để làm chậm lại tốc độ tiêu chảy và nôn ói. Một số ít loại nhiễm siêu vi có thể được điều trị bằng thuốc kháng siêu vi, trong đó có Herpes và influenza virus. Nếu bệnh nhân có thể uống nước được và triệu chứng nhẹ, bệnh nhân có thể về nhà được mà không cần ở lại bệnh viện.
  • Những bệnh nhiễm vi khuẩn cần phải có loại thuốc kháng sinh đặc hiệu để điều trị tùy thuộc và loại vi khuẩn được tìm thấy và nơi ở của nó trong cơ thể người. Các bác sĩ sẽ xác định xem người bệnh có cần phải nhập viện không hay có thể ra về được. Quyết định tùy thuộc vào bệnh hiện tại và những bệnh kèm theo khác của bệnh nhân.
  • Hầu hết những trường hợp nhiễm nấm đều có thể được điều trị bằng thuốc kháng nấm.
  • Sốt do thuốc có thể giảm sau khi ngưng thuốc.
  • Nếu bị huyết khối thuyên tắc, bạn nên đến bệnh viện và sử dụng thuốc tán huyết.
  • Bất kỳ ai có bệnh gây ảnh hưởng đến chức năng của hệ miễn dịch đều được theo dõi sát và thường được nhập viện.
  • Đối với bệnh nhân tiếp xúc với nhiệt độ nóng ở môi trường cần phải được làm mát bằng cách cởi bỏ hết quần áo, mở quạt có phun sương, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn.

NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Tái khám

Hầu hết các trường hợp sốt đều sẽ khỏi sau vài ngày được điều trị thích hợp. Hãy tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ để được bảo đảm nguyên nhân gây sốt đã được trị hết, có thể là vài ngày đến vài tuần sau lần đến khám đầu tiên, tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh.

Nếu triệu chứng nặng hơn, sốt kéo dài trên 3 ngày mặc dù đã được điều trị, hoặc nếu sốt kéo dài hơn 1 tuần không được điều trị, hãy đến gặp bác sĩ ngay.

Phòng ngừa

Hầu hết các trường hợp sốt là do nhiễm trùng. Bạn có thể phòng ngừa được sự lây lan của nhiễm trùng.

  • Cách tốt nhất để ngăn sự lây nhiễm là rửa tay thường xuyên.
  • Giữ không gian nhà ở và nơi làm việc được sạch sẽ.
  • Tránh tiếp xúc với người bệnh.
  • Không dùng chung ly hoặc đồ đựng thức ăn, đặc biệt là nếu chúng không được sạch.
  • Mặc quần áo bảo hộ thích hợp và sử dụng dụng cụ khi phải làm việc với động vật.
  • Bảo đảm bạn đã tiêm ngừa đầy đủ và mang theo thuốc phòng ngừa thích hợp nếu đi du lịch xa.
  • Sau khi tập luyện nặng, cố gắng không để mất nước, mặc quần áo mát, nghỉ ngơi đều đặn và hạ nhiệt cơ thể sau khi hoàn tất bài tập. Tránh uống rượu hoặc dùng thuốc làm thay đổi hành vi và suy nghĩ.

Tiên lượng

Ở hầu hết các trường hợp, sốt sẽ tự đến và tự đi mà không cần có sự can thiệp gì nhiều từ bác sĩ. Nếu tìm ra được một nguyên nhân đặc biệt gây sốt, bác sĩ có thể sẽ kê toa những loại thuốc thích hợp và giải quyết nguyên nhân đó. Đôi khi, cần phải dùng đến loại kháng sinh thứ hai, thuốc kháng nấm hoặc những loại thuốc khác. Thông thường nếu được điều trị bằng một phương pháp thích hợp, tình trạng nhiễm trùng sẽ được giải quyết và người bệnh sẽ trở lại bình thường.

Ở một số trường hợp, sốt có thể gây đe dọa tính mạng, thường gặp ở những người bị suy yếu hệ miễn dịnh, một số loại viêm màng nãođau bụng nặng nề. Viêm phổi cũng có thể gây đe dọa mạng sống ở những người lớn tuổi. Bất kỳ tình trạng nhiễm trùng nào chưa tìm ra được nguồn gốc đều có thể tiếp tục diễn tiến xấu hơn và trở nên rất nguy hiểm. Tăng thân nhiệt nặng có thể gây hôn mê, tổn thương não, và thậm chí là tử vong.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Saturday, August 28, 2010

Nhức đầu

Nhức đầu

Nhức đầu được định nghĩa là triệu chứng đau ở vùng đầu và phần cổ trên và là một trong những vị trí đau thường gặp nhất trên cơ thể do nhiều nguyên nhân gây ra.

Có nhiều nguyên nhân gây nhức đầu, vào năm 2007, Hiệp hội nhức đầu quốc tế (International Headache Society) đã thống nhất hệ thống phân loại nhức đầu đã được cập nhật. Do có rất nhiều người đã từng bị nhức đầu và do đôi khi điều trị nhức đầu khá khó khăn do đó hệ thống phân loại mới giúp cho các nhân viên y tế có thể hiểu được những chẩn đoán đặc hiệu hoàn thiện hơn để có thể điều trị được tốt hơn và hiệu quả hơn.

Có ba nhóm nhức đầu chính:

  1. Nhức đầu nguyên phát
  2. Nhức đầu thứ phát, và
  3. Đau dây thần kinh sọ, đau mặt và những loại nhức đầu khác

Nhức đầu nguyên phát

Nhức đầu nguyên phát bao gồm nhức đầu migraine, nhức đầu do áp lựcnhức đầu chùm, cùng với rất nhiều loại nhức đầu khác ít gặp hơn.

Nhức đầu nguyên phát có thể ảnh hưởng đến chất lượng sống. Một số người thỉnh thoảng bị nhức đầu có thể tự khỏi nhanh chóng nhưng cũng có một số người bị nhức đầu làm cho yếu hẳn đi. nhức đầu do áp lực, nhức đầu migrainenhức đầu chùm không ảnh hưởng đến mạng sống.

Nhức đầu thứ phát

Nhức đầu thứ phát là nhức đầu do những bất thường cấu trúc bên trong đầu và cổ gây ra. Có nhiều nguyên nhân gây ra nhức đầu loại này bao gồm chảy máu não, u bướu, hay viêm màng nãoviêm não.

Đau dây thần kinh sọ, đau mặt và những loại nhức đầu khác

Đau dây thần kinh sọ là một nhóm triệu chứng nhức đầu gây ra bởi những dây thần kinh bên trong đầu và phần trên cổ bị viêm. Nhức mặt và nhiều loại nguyên nhân gây nhức đầu khác cũng được xếp vào nhóm này.

NHỨC ĐẦU DO ÁP LỰC

(Xem thêm bài Nhức đầu do áp lực)

Nhức đầu do áp lực là loại nhức đầu thường gặp nhất, nguyên nhân của nó vẫn chưa được rõ. Nguyên nhân có vẻ chính xác nhất là do sự co thắt của các cơ bao phủ quanh hộp sọ. Khi các cơ này phải chịu áp lực, chúng sẽ co thắt và gây nhức đầu. Vị trí thường gặp là ở sàn sọ, đó là vị trí của cơ thang ở cổ, và vùng thái dương là vị trị của các cơ giúp hàm chuyển động, và vùng trán.

Có một nghiên cứu nhỏ để xác định nguyên nhân chính xác gây ra nhức đầu do áp lực. Nhức đầu do áp lực có nguyên nhân do những áp lực về thể chất và tâm lý tác động lên cơ thể. Những áp lực thể chất bao gồm những công việc lao động khó khăn và kéo dài, hoặc ngồi ở bàn hoặc ở máy vi tính trong một thời gian dài. Những áp lực tâm lý cũng có thể gây nhức đầu do áp lực bằng cách gây co những cơ xung quanh sọ.

Triệu chứng

Những triệu chứng của nhức đầu do áp lực bao gồm:

  • Cơn đau bắt đầu từ vùng sau đầu và vùng cổ trên giống như có một dải băng xiết chặt xung quanh hoặc bị đè ép.
  • Cơn đau được mô tả như có một dải áp lực xiết quanh đầu và đau dữ dội nhất là ở vùng lông mày.
  • Cơn đau thường nhẹ (không đủ để gây cản trở những công việc thường ngày) và hai bên.
  • Thường không liên quan đến triệu chứng thoáng qua và không gây buồn nôn, nôn hoặc nhạy cảm với ánh sáng và tiếng động.
  • Thường thỉnh thoảng mới xảy ra nhưng ở một số người có thể xảy ra thường xuyên và thậm chí là xảy ra hằng ngày.
  • Hầu hết những người bị nhức đầu do áp lực đều có thể sinh hoạt được bình thường.

Chẩn đoán

Bí quyết giúp chẩn đoán bất kỳ trường hợp nhức đầu nào là bệnh sử của bệnh nhân. Bác sĩ sẽ hỏi những câu hỏi thích hợp để tìm hiều xem triệu chứng nhức đầu bắt đầu khi nào, tính chất, số lượng và thời gian kéo dài của cơn đau, và hỏi thêm những triệu chứng liên quan. Bệnh sử nhức đầu do áp lực sẽ bao gồm các tính chất sau: cơn đau từ nhẹ đến vừa, xuất hiện ở cả hai bên đầu, được mô tả như sự xiết chặt không nghe tiếng mạch đập và không tăng lên khi hoạt động. Không có những triệu chứng kèm theo như nôn ói, nhạy cảm với ánh sáng.

Khám lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán do có thể khẳng định được rằng bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực nếu lúc khám không phát hiện được dấu hiệu nào cả. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là bệnh nhân có thể có cảm giác căng căng ở sọ hoặc ở cơ cổ. Nếu bác sĩ phát hiện ra bất thường khi khám thì có thể là bệnh nhân không bị nhức đầu do áp lực mà là do một nguyên nhân nào đó khác.

Điều trị

Nhức đầu do áp lực khá đau và thông thường bệnh nhân sẽ cảm thấy bất ngờ khi chẩn đoán "chỉ là" nhức đầu do căng thẳng. Mặc dù nó không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng nhức đầu do áp lực có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày.

Hầu hết mọi người có thể tự điều trị thành công bởi những loại thuốc giảm đau thông dụng. Những thuốc sau có tác dụng tốt ở hầu hết mọi người:

  • Aspirin
  • Ibuprofen (Motrin, Advil)
  • Acetaminophen (Panadol, Tylenol), và
  • Naproxen (Aleve)

Nếu những thuốc trên thất bại, có thể có những biện pháp điều trị khác. Nếu nhức đầu tái đi tái lại nhiều lần, bạn nên đi bác sĩ khám bệnh. Có thể sử dụng các biện pháp như massage, phản hồi sinh học và kiểm soát stresss để giúp kiểm soát các cơn nhức đầu.

Điều quan trọng cần nhớ là những thuốc thông dụng có thể mua tại quầy thuốc mà không cần đến toa bác sĩ tuy an toàn nhưng có thể có những tác dụng phụ và phản ứng với những thuốc khác. Nên hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ nếu bạn có thắc mắc về những loại thuốc trên và công dụng của chúng. Điều này đặc biệt quan trọng do những bệnh nhân nhức đầu dùng chúng rất thường xuyên.

Đọc kỹ danh mục những thành phần có trong thuốc giảm đau cũng rất quan trọng. Thông thường các loại thuốc giảm đau hay phối hợp các thành phần lại với nhau và những thành phần thứ hai, thứ ba chứa trong thuốc có khả năng gây phản ứng thuốc hoặc chống chỉ định dùng chung với những loại thuốc mà bệnh nhân đang sử dụng. Chẳng hạn như:

  • Một số loại thuốc giảm đau có chứa caffein có thể kích thích tim đập nhanh ở một số bệnh nhân.
  • Ở những loại thuốc dùng ban đêm, diphenhydramine (Benadryl) có thể được thêm vào. Thành phần này có thể gây ra tình trạng lơ mơ, ngủ gà, do đó không nên sử dụng khi đang lái xe hay điều khiển những máy móc nặng.

Một số trường hợp khác cần thận trong bao gồm:

  • Aspirin không nên dùng ở trẻ em hoặc tuổi mới lớn do nguy cơ bị hội chứng Reye, bệnh có thể gây hôn mê, tổn thương não và tử vong do những bệnh tương tự như nhiễm siêu vi và sử dụng aspirin.
  • Aspirin và ibuprofen có thể kích thích dạ dày và gây chảy máu. Nên thận trọng khi sử dụng với những bệnh nhân bị loét dạ dày hoặc những bệnh nhân dùng thuốc tán huyết như warfarin (Coumadin) và clopidogrel bisulfate (Plavix).
  • Acetaminophen nếu được dùng với lượng lớn có thể gây tổn thương hay suy gan. Nên dùng thận trọng đối với những bệnh nhân uống rượu nhiều hoặc bị bệnh gan.
  • Một nguyên nhân gây nhức đầu do áp lực là sử dụng quá liều thuốc giảm đau. Khi sử dụng thuốc giảm đau trong một thời gian dài, cơn đau đầu có thể quay trở lại do tác dụng của việc bỏ thuốc. Do đó trong trường hợp này, hức đầu là một triệu chứng của hội chứng cai thuốc.

NHỨC ĐẦU CHÙM

(Xem thêm bài Nhức đầu chùm)

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây nhức đầu chùm vẫn chưa chắc chắn. Có thể là do một phần nào đó của não bắt đầu bị rối loại chức năng do một nguyên nhân nào đó không rõ. Vùng hạ đồi, khu vực nằm ở sàn sọ chịu trách nhiệm điều khiển đồng hồ sinh học của cơ thể và cũng có thể là khu vực não gây ra nhức đầu. Khi scan não ở những bệnh nhân đang bị nhức đầu chùm, người ta phát hiện ra những hoạt động bất thường ở vùng hạ đồi.

Nhức đầu chùm còn:

  • Có khuynh hướng xuất hiện ở những người trong gia đình và do đó có thể có nguyên nhân di truyền.
  • Có thể xuất hiện khi thay đổi giờ giấc ngủ.
  • Có thể xuất hiện khi sử dụng một số loại thuốc (chẳng hạn như nitroglycerin được dùng để điều trị bệnh tim).

Nếu bệnh nhân đang ở giai đoạn dễ bị nhức đầu chùm, những yếu tố như hút thuốc lá, uống rượu và một số loại thức ăn (vd như chocolate) có thể gây ra cơn nhức đầu.

Triệu chứng

Nhức đầu chùm là những cơn nhức đầu kéo dài thành từng chuỗi (chùm) kéo dài trong vài tuần hoặc vài tháng tách biệt nhau bằng những khoảng thời gian không bị nhức đầu kéo dài vài tháng hay vài năm.

  • Trong khoảng thời gian bệnh nhân bị nhức đầu chùm, cơn đau đầu thường diễn ra một hay hai lần mỗi ngày, nhưng một số bệnh nhân có thể bị nhức đầu trên 2 lần mỗi ngày.
  • Mỗi cơn nhức đầu kéo dài từ 30 phút đến 1 tiếng rưỡi.
  • Các cơn có khuynh hướng xảy ra vào cùng một thời điểm trong ngày và thường làm bệnh nhân tỉnh dậy lúc nửa đêm khỏi một giấc ngủ ngon.
  • Cơn đau thường khu trú xung quanh hoặc phía sau một mắt.
  • Một số bệnh nhân mô tả cơn đau giống như cảm giác có một que cời lửa nóng bên trong mắt. Mắt bị ảnh hưởng có thể đỏ, viêm và chảy nước.
  • Mũi ở bên bị ảnh hưởng có thể bị nghẹt và chảy nước mũi.

Không giống như những bệnh nhân bị nhức đầu migraine, những bệnh nhân bị nhức đầu chùm thường không chịu ngồi yên. Họ đi lại quanh nhà, đập đầu vào tường v.v... Nhức đầu chùm thường gặp ở nam nhiều hơn nữ.

Chẩn đoán

Chẩn đoán nhức đầu chùm cần dựa vào bệnh sử và triệu chứng của bệnh nhân. Lời mô tả của bệnh nhân về cơn đau và tính chất tái phát chính xác ở một thời điểm nào đó trong ngày thường đủ để có thể chẩn đoán được.

Nếu khám trong lúc bệnh nhân đang trong cơn (đang bị nhức đầu), thường sẽ gặp các triệu chứng như đau đầu, chảy nước mũi và nước mắt như đã mô tả ở trên. Nếu khám trong lúc bệnh nhân ở ngoài cơn (không bị nhức đầu), thường sẽ cho kết quả bình thường và việc chẩn đoán sẽ dựa vào bệnh sử của bệnh nhân.

Điều trị

Nhức đầu chùm rất khó điều trị và cần phải áp dụng phương pháp thử-sai để tìm ra được chế độ điều trị đặc hiệu riêng cho mỗi bệnh nhân. Do nhức đầu tái đi tái lại mỗi ngày nên việc điều trị cần tiến hành hai việc. Cần phải kiểm soát cơn đau ở giai đoạn đầu tiên, sau đó phòng ngừa những cơn đau kế tiếp.

Khởi đầu điều trị có thể bao gồm những lựa chọn sau:

  • Hít oxy nồng độ cao (có thể sẽ không có tác dụng nếu cơn nhức đầu quá nặng).
  • Tiêm tryptan, vd như sumatriptan (Imitrex), zolmitriptan (Zomig), và rizatriptan (Maxalt), là những thuốc cũng thường được dùng để điều trị nhức đầu migraine.
  • Tiêm lidocaine, là thuốc tê tại chỗ, vào mũi.
  • Dihydroergotamine (DHE, Migranal), là loại thuốc gây co mạch máu.
  • Caffeine.

Điều trị ngăn ngừa những cơn nhức đầu tái phát có thể bao gồm những lựa chọn sau:

  • Thuốc chẹn kênh Calci [vd như verapamil (Calan, Verelan, Verelan PM, Isoptin, Covera-HS), diltiazem (Cardizem, Dilacor, Tiazac)]
  • Prednisone (Deltasone, Liquid Pred)
  • Thuốc chống trầm cảm
  • Lithium (Eskalith, Lithobid)
  • valproic acid, divalproex (Depakote, Depakote ER, Depakene, Depacon), và topiramate (Topamax) (thường được dùng để điều trị tai biến).

Phòng bệnh

Do những giai đoạn của nhức đầu chùm có thể cách nhau đến vài năm và do cơn nhức đầu đầu tiên của một đợt bệnh mới không thể tiên đoán trước được nên ngay cả việc dùng thuốc hằng ngày có thể không bảo đảm.

Có thể thay đổi lối sống để giúp giảm thiểu nguy cơ gây nhức đầu chùm. Bỏ thuốc và giới hạn uống rượu có thể phòng ngừa những cơn nhức đầu chùm trong tương lai.

NHỨC ĐẦU THỨ PHÁT

Có thể nhức đầu là một triệu chứng của nhiều loại bệnh khác nhau. Triệu chứng nhức đầu tự bản thân nó có thể là nhức đầu tiên phát nhưng nhức đầu thứ phát có thể là do những bệnh khác nhau hoặc những tổn thương cần phải được chẩn đoán và điều trị. Cần phải điều trị triệu chứng nhức đầu ngay tại thời điểm thực hiện các xét nghiệm giúp chẩn đoán. Một vài nguyên nhân gây nhức đầu thứ phát có thể đe dọa mạng sống và gây tử vong. Điều căn bản là cần phải chẩn đoán và điều trị sớm nếu tổn thương được giới hạn.

Hiệp hội nhức đầu quốc tế đã liệt kê được 8 nhóm nhức đầu thứ phát. Dưới đây là một vài ví dụ chưa hoàn chỉnh của mỗi nhóm:

Chấn thương đầu và cổ

  • Chấn thương đầu có thể gây chảy máu vào trong khoang nằm giữa các lớp mô bao quanh não (chảy máu dưới màng cứng, ngoài màng cứng và dưới màng nhện) hoặc vào trong chính mô não.
  • Chấn động não, tổn thương não không gây chảy máu.
  • Triệu chứng chấn thương do đụng dập và tổn thương não.

Do bất thường mạch máu ở đầu và cổ

  • Đột quỵ hoặc cơn thiếu máu thoáng qua
  • Dị tật động tĩnh mạch cũng có thể gây nhức đầu.
  • Động mạch cảnh ở cổ có thể bị viêm và gây đau.
  • Viêm động mạch thái dương.

Những nguyên nhân không phải do mạch máu ở não

  • U não, có thể là nguyên phát, xuất phát từ não hoặc do di căn từ một ung thư có khởi nguồn từ một cơ quan khác.
  • Tai biến
  • Tăng áp lực nội sọ tự phát, còn được gọi là giả u sọ, do áp lực dịch não tủy bên trong ống tủy quá lớn.

Nguyên nhân do điều trị và do thuốc (bao gồm cả hội chứng cai nghiện những loại thuốc trên)

Nhiễm trùng

Thay đổi bên trong môi trường của cơ thể

Những bệnh của mắt, tai, mũi, họng, răng và cổ

Những rối loạn tâm lý

Chẩn đoán

Nếu có thời gian, công việc chẩn đoán một bệnh nhân nhức đầu thứ phát cần bắt đầu bằng cách hỏi bệnh đầy đủ, sau đó bệnh nhân sẽ được khám và cho làm các xét nghiệm cùng với những khảo sát hình ảnh học cần thiết.

Tuy nhiên, một số bệnh nhân bị nhức đầu dữ dội kèm với giảm ý thức và dấu hiệu sinh tồn không ổn định. Trong những trường hợp này, bác sĩ có thể sẽ quyết định điều trị những nguyên nhân đặc hiệu mà không cần phải chờ kết quả các xét nghiệm để xác định chẩn đoán.

Chẳng hạn như nếu bệnh nhân có những dấu hiệu như nhức đầu, sốt, cổ gượng, và lú lẫn gợi ý đến bệnh viêm màng não. Do viêm màng não có thể gây tử vong rất nhanh nên cần phải bắt đầu điều trị kháng sinh trước khi xét nghiệm máu và chọc dò tủy sống để xác định chẩn đoán.

Khám và xét nghiệm

Bệnh sử và khám lâm sàng cung cấp cho bác sĩ những phương tiện tốt nhất để xác định nguyên nhân gây nhức đầu thứ phát. Do đó, những bệnh nhân bị nhức đầu nặng nề nhất thiết phải đi đến các cơ sở y tế để giúp các bác sĩ có được cơ hội tiếp cận được bệnh. Những xét nghiệm có thể có ích giúp chẩn đoán những bệnh gây nhức đầu bao gồm:

  • Xét nghiệm máu
  • CT scan
  • MRI đầu và
  • Chọc dò tủy sống

Những xét nghiệm đặc hiệu sẽ được thực hiện tùy thuộc vào những nguyên nhân có thể xảy ra mà bác sĩ và bệnh nhân muốn nhắm đến.

Xét nghiệm máu

Xét nghiệm máu giúp cung cấp những thông tin hữu ích liên hệ với bệnh sử và kết quả khám lâm sàng để xác định chẩn đoán. Chẳng hạn như quá trình viêm hoặc nhiễm trùng trong cơ thể có thể gây tăng số lượng bạch cầu, tỷ lệ hồng cầu cặn (ESR - Erythrocyte sedimentation rate) hoặc C-reactive protein (CRP). Xét nghiệm máu cũng giúp xác định rối loạn điện giải cũng như chức năng của nhiều cơ quan khác nhau như gan, thận và tuyến giáp.

CT scan đầu

CT scan giúp phát hiện ra vùng chảy máu, phù nề và khối u. Nó còn cho ta thấy được vết tích của những lần đột quỵ trước. Nếu tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch, nó còn giúp các bác sĩ quan sát được các động mạch bên trong não.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) đầu

MRI có khả năng cho hình ảnh tốt hơn về giải phẫu não, màng não (các lớp bao xung quanh não và tủy sống). Tuy chính xác hơn nhưng nó cũng đòi hỏi thời gian thực hiện tương đối dài hơn so với CT scan, ngoài ra MRI không phải ở bệnh viện nào cũng có thể thực hiện được.

Chọc dò tủy sống

Dịch não tủy là dịch xung quanh não và tủy sống. Có thể dùng kim đâm vào cột sống từ phía sau lưng ở dưới thấp để rút dịch não tủy ra. Kiểm tra dịch não tủy có thể giúp phát hiện nhiễm trùng (vd như viêm màng não do vi khuẩn, virus hoặc do lao) hoặc phát hiện ra máu trong ổ tụ máu. Trong hầu hết các trường hợp, CT scan có thể được thực hiện trước khi chọc dịch não tủy để bảo đảm không có chảy máu, phù nề hoặc u bướu bên trong não.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM

Nên đi khám bệnh nếu như cơn nhức đầu có những tính chất sau:

  • Bị nhức đầu nặng nề nhất từ trước đến giờ
  • Khác với những lần nhức đầu trước đó
  • Xuất hiện đột ngột hoặc nặng hơn khi gắng sức, ho, tựa người ra trước hoặc khi quan hệ tình dục.
  • Kết hợp với nôn ói kéo dài
  • Kết hợp với sốt hoặc cứng cổ
  • Kết hợp với tai biến
  • Kết hợp với những lần chấn thương đầu hoặc té ngã gần đây
  • Kết hợp với sự thay đổi thị lực, chức năng nói hoặc thay đổi hành vi.
  • Kết hợp với yếu liệt hoặc thay đổi giác quan
  • Không đáp ứng với điều trị hoặc diễn tiến xấu hơn
  • Cần phải tăng liều thuốc giảm đau
  • Cản trở đến công việc và chất lượng cột sống

TÓM TẮT

  • Đầu là một trong những vị trí thường bị đau nhất trên cơ thể.
  • Những loại nhức đầu thường gặp nhất có thể chia ra làm 3 nhóm: 1) Tiên phát, 2) Thứ phát, và 3) Đau dây thần kinh, đau mặt và những kiểu nhức đầu khác.
  • Những loại nhức đầu tiên phát thường gặp nhất là 1)Do áp lực, 2) Migraine và 3) Nhức đầu chùm.
  • Nhức đầu do áp lực là loại nhức đầu tiên phát thường gặp nhất và thường có thể điều trị được bằng những thuốc giảm đau thông thường.
  • Nhức đầu thứ phát là triệu chứng của chấn thương hoặc những bệnh khác.
  • Bệnh nhân nên đi khám bệnh ngay nếu như bị một cơn nhức đầu mới xuất hiện, sốt, cổ gượng, thay đổi hành vi, nôn ói, yếu liệt hoặc thay đổi giác quan.

Theo MedicineNET - Y học NET dịch

Friday, August 27, 2010

Nhức đầu do áp lực

Nhức đầu do áp lực

Tại Hoa Kỳ có hơn 10 triệu lượt người đến phòng khám hoặc phòng cấp cứu do nhức đầu. Với một bệnh sử đầy đủ và thăm khám lâm sàng, bác sĩ có thể chẩn đoán chính xác và điều trị được phần lớn các trường hợp nhức đầu.

Nhức đầu do áp lực (nhức đầu căng) là loại nhức đầu thường gặp nhất.

  • Khoảng 69% nam giới và 88% nữ giới bị nhức đầu do áp lực ít nhất 1 lần trong đời.
  • Nhức đầu áp lực có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng thường bắt đầu xuất hiện ở tuổi thiếu niên và người trưởng thành trẻ với tần xuất cao nhất trong độ tuổi từ 20 - 50 tuổi.
  • Có đến hơn 300 loại bệnh khác nhau đã được xác định có thể gây nhức đầu. Vào năm 1988, Hiệp Hội Nhức Đầu Quốc Tế (International Headache Society) đã đưa ra bảng phân loại nhức đầu. Có 13 nhóm nhức đầu được chia ra làm 129 nhóm nhỏ. Các loại nhức đầu được phân ra làm nhức đầu nguyên phát và thứ phát.
    • Nhức đầu nguyên phát bao gồm nhức đầu migraine, nhức đầu do áp lực và nhức đầu chùm. Hơn 90% bệnh nhân đến khám bệnh vì nhức đầu thuộc một trong số những loại trên. Nhức đầu nguyên phát thường vô hại nhưng nó có thể tái đi tái lại nhiều lần.
    • Nhức đầu thứ phát thường là kết quả của một bệnh nào đó mà nhức đầu chỉ là một triệu chứng.
  • Hiệp Hội Nhức Đầu Quốc Tế còn chia nhức đầu áp lực ra làm nhức đầu từng hồi hay nhức đầu mạn tính và có hay không có nhạy cảm đau của các cơ quanh sọ (đau bên ngoài hộp sọ).
    • Những bệnh nhân nhức đầu áp lực từng hồi là những bệnh nhân trước đây có ít nhất 10 đợt nhức đầu kéo dài từ 30 phút đến 7 ngày và diễn ra ít hơn 180 lần mỗi năm. Cơn nhức đâu phải có ít nhất 2 trong số những tính chất sau:
      • Ép/xiết chặt, ở cả 2 bên đầu.
      • Cường độ từ nhẹ đến trung bình
      • Không nặng thêm khi thực hiện những động tác sinh hoạt hằng ngày
      • Không nôn hoặc buồn nôn
      • Có thể nhạy cảm với ánh sáng hoặc tiếng động nhưng không nhạy cảm với cả hai cùng lúc
    • Những bệnh nhân nhức đầu áp lực mạn tính là những bệnh nhân có tần số trung bình của các cơn nhức đầu là 15 ngày mỗi tháng hoặc 180 ngày mỗi năm trong 6 tháng và đồng thời cũng phải thỏa mãn những điều kiện chẩn đoán của nhức đầu từng hồi phía trên (có 2 trong số những tính chất được liệt kê phía trên). Ngoài ra, những người bị nhức đầu áp lực mạn tính phải là những người không có những bệnh lý khác và được chứng minh bằng kết quả khám lâm sàng và khám thần kinh.

NGUYÊN NHÂN

  • Nhiều bệnh nhân có cơn nhức đầu khởi phát do stress hoặc do gặp những tình huống gây rối loạn cảm xúc. Tuy nhiên, những yếu tố này vẫn chưa được chứng minh là có khả năng gây ra co cơ hoặc làm giảm lượng máu đến. Tuy rằng có thể nhiều bệnh nhân nhức đầu áp lực bị nhạy cảm đau ở những cơ xung quanh đầu nhưng nhức đầu áp lực không phải là hậu quả của sự co cơ kéo dài.
  • Gần đây nhất có những chứng cứ rất thuyết phục cho rằng nhức đầu nguyên phát có nguyên nhân từ những bất thường chức năng của hệ thần kinh trung ương. Do đó, những cơn đau nhức cơ của nhức đầu do áp lực được cho là do kết quả của sự gia tăng cảm giác của hệ thần kinh trung ương và đau do những sự mất cân bằng tạm thời hoặc kéo dài của các hóa chất có trong não còn được gọi là những chất dẫn truyền thần kinh (serotonin, dopamine, norepinephrine, enkephalins).
    • Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng một số bệnh nhân bị nhức đầu nguyên phát đáp ứng với những loại thuốc có tác dụng và ảnh hưởng tập trung vào serotonin. Những bệnh nhân trên hầu hết đều bị migraine hoặc nhức đầu chùm. Hầu hết bệnh nhân không bị nhức đầu migrainenhức đầu chùm đều không đáp ứng với những loại thuốc có tác dụng tập trung vào serotonin. hoặc
    • Những bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực mạn tính có thể cũng bị mất cân bằng hóa học trong hệ thần kinh. Thật tế, chứng suy nhược tinh thần cũng có thể là nguyên nhân gây nhức đầu do áp lực mạn tính ở một số người. Suy nhược tinh thần và một số rối loại giấc ngủ có liên quan đến serotonin.

TRIỆU CHỨNG

Thông thường, nhức đầu do áp lực có thể gây cảm giác bị ép, đè xiết lan tỏa chứ không tập trung ở một vị trí nhất định. Đôi khi các cơ xung quanh đầu trở nên nhạy đau (đau khi chạm vào).

  • Cơn đau có thể xuất hiện ở cả 2 bên đầu, hoặc gây ra cảm giác đau hay đè xiết ở vùng trán, thái dương hoặc phía sau đầu và lan đến cổ và vai. Cơn đau thường có cường độ trung bình, không nặng đến mức cản trở những công việc thường ngày của bệnh nhân, và không liên quan đến những triệu chứng thường gặp của nhức đầu thể migraine, chẳng hạn như nôn, buồn nôn, nhạy cảm với ánh sáng hay tiếng động.
  • Cơn đau thường khởi phát từ từ và không có triệu chứng báo trước hay không có khoảng thời gian mà người bệnh có thể cảm giác được cơn đau đang đến gần.
  • Bệnh nhân thường cảm thấy thời điểm khởi phát của cơn đau có liên quan đến khoảng thời gian trong khi hoặc sau khi bị stress và thường vào lúc cuối ngày.
  • Nếu nhức đầu do áp lực kéo dài hơn 15 ngày mỗi tháng hoặc kéo dài hơn 6 tháng, thường nó được xem là thể mạn tính hơn là thể nhức đầu từng hồi.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM

Đến phòng khám

  • Bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực mạn tính hay từng hồi nếu có cảm giác có sự thay đổi về độ nặng hoặc tần xuất của cơn đau nên đến bác sĩ để khám bệnh.
  • Những bệnh nhân trước đây chưa từng bị nhức đầu và lớn hơn 50 tuổi nếu thấy đau ở vùng thái dương nên đến gặp bác sĩ để khám xem mình có bị viêm động mạch thái dương hay không. Ngoài ra, những bệnh nhân lớn hơn 50 tuổi nếu mới khởi phát một đợt nhức đầu mới nên được khám để đánh giá xem có nguyên nhân ác tính hay không.
  • Khi bị nhức đầu kèm với những dấu hiệu nhiễm trùng như sốt, phát ban, hoặc cứng cổ, bạn nên đến gặp bác sĩ để có thể loại trừ những bệnh như viêm màng não, viêm não hoặc bệnh Lyme.
  • Những bệnh nhân mới bị nhức đầu và có yếu tố nguy cơ bị nhiễm HIV, hoặc những bệnh nhân bị nhiễm HIV hay ung thư nên được thực hiện những kỹ thuật khảo sát hình ảnh để loại trừ viêm màng não, áp xe não hoặc sự lan rộng của ung thư (di căn).

Đến bệnh viện

Một số trường hợp nhức đầu có thể là dấu hiệu của một tình trạng rất nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, bệnh nhân nên đến phòng cấp cứu ngay lập tức.

  • Những người đã từng hoặc chưa từng bị nhức đầu trước đây và bị một cơn nhức đầu nặng nề nhất từ trước đến giờ nên được đưa đến phòng cấp cứu, đặc biệt là khi bệnh nhân cảm thấy cơn nhức đầu như bị nổ tung và xuất hiện bất ngờ. Hiện tượng này có thể là gợi ý của tình trạng chảy máu bên trong hoặc xung quanh não. Nhức đầu khởi phát bất ngờ, chưa cần tính đến độ nặng của cơn đau, cũng là dấu hiệu báo động cho bệnh nhân nên đi khám bệnh.
  • Những bệnh nhân bị nhức đầu cùng với những triệu chứng kèm theo như không nhìn thấy ở một mắt, yếu ở một bên người, nói líu ríu hoặc nói sai, hoặc không thể hiểu và làm theo mệnh lệnh nên được đi khám ngay lập tức.
  • Bất kỳ ai, đặc biệt là những người già, bị chấn thương ở bất kỳ dạng nào kèm với khởi phát nhức đầu nên được đưa đến phòng cấp cứu để đánh giá.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Hầu hết bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực đều có thể được chẩn đoán dựa trên bệnh sử toàn diện và quá trình thăm khám. Không cần phải thực hiện các xét nghiệm nếu bệnh nhân không có các dấu hiệu bất thường về thần kinh khi khám và khỏe mạnh ở những phương diện khác.

Ngược lại, những bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực mạn tính, bất kể là có hay không có những dấu hiệu bất thường về thần kinh khi thăm khám, đều nên được chụp CTMRI. Tuy rằng những khảo sát hình ảnh này không giúp chẩn đoán được những hội chứng nhức đầu đặc biệt nhưng nó có thể cung cấp những bằng chứng vô giá để loại trừ những nguyên nhân khác của nhức đầu. Đánh giá chức năng tuyến giáp, công thức máu và theo dõi chuyển hóa cũng nên được thực hiện.


ĐIỀU TRỊ

Tại nhà

Hầu hết những bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực đều có thể cảm thấy giảm triệu chứng khi dùng những thuốc thông dụng như aspirin, acetaminophen và những thuốc kháng viêm không steroid khác (NSAID - Nonsteroidal anti-inflammatory drug).

  • Một số người có thể cần dùng đến những loại thuốc giảm đau mạnh hơn do bác sĩ kê toa trong những giai đoạn nhức đầu đặc biệt nặng nề.
  • Dùng thường xuyên những loại thuốc điều trị triệu chứng nhức đầu thật chất có thể làm nhức đầu do áp lực từng hồi trở thành nhức đầu mạn tính một cách tự nhiên.

Tại bệnh viện

Bác sĩ có thể đề nghị bạn sử dụng một số loại thuốc giảm đau thông dụng như aspirin, acetaminophen và những thuốc kháng viêm không steroid khác. Những thuốc này có thể làm giảm nhức đầu ở hầu hết những bệnh nhân nhức đầu do tăng áp lực.

Thuốc

Những thuốc giảm đau mạnh cần có toa bác sĩ sẽ được cho khi bác sĩ đã hiểu rõ hơn về tình trạng nhức đầu của bệnh nhân cũng như những bệnh khác kèm theo. Tuy nhiên các bác sĩ cũng sẽ cẩn thận để phòng ngừa tình trạng phụ thuộc thuốc của bệnh nhân đối với những loại thuốc có tính chất gây nghiện, đặc biệt là khi cơn nhức đầu cứ tái đi tái lại nhiều lần.

Đối với những cơn nhức đầu không thể kiểm soát được bằng thuốc giảm đau, các bác sĩ có thể kê toa những thuốc phòng ngừa như thuốc chống trầm cảm, chẹn beta, hoặc thuốc chống co giật.


NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Theo dõi

Bệnh nhân được chẩn đoán bị nhức đầu do áp lực nên sử dụng thuốc trực tiếp và sắp xếp lịch tái khám với bác sĩ trong 1-2 tuần kế tiếp. Vào lúc đó, bác sĩ có thể sẽ điều chỉnh thuốc hoặc cho một chẩn đoán chính xác hơn nếu chẩn đoán ban đầu vẫn chưa chắc chắn.

  • Nên đi khám bệnh ngay lập tức nếu xuất hiện triệu chứng mới hoặc có sự thay đổi sâu sắc trong những triệu chứng hiện có.
  • Nếu bệnh nhân bị trầm cảm hoặc lo lắng, hoặc nếu lạm dụng thuốc, cần phải khử độc trước khi bắt đầu điều trị. Trong những trường hợp phức tạp có thể cần phải phối hợp thuốc. Trong những trường hợp này, có thể bác sĩ sẽ cần phải tham khảo thêm ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa thần kinh, tâm lý, hoặc gây mê.

Phòng ngừa

Những thuốc được dùng để phòng ngừa nhức đầu do áp lực bao gồm thuốc chống trầm cảm, chẹn beta, và chống co giật. Những loại thuốc này chỉ có tác dụng thử nghiệm nhưng chúng có vẻ như hiệu quả ở những bệnh nhân bị nhức đầu migraine hoặc nhức đầu chùm. Hầu hết các bác sĩ lựa chọn khởi đầu điều trị với những thuốc chống trầm cảm thế hệ mới vì có ít tác dụng phụ hơn và sau đó tăng liều dần dần đến liều có khả năng điều trị. Thuốc chống trầm cảm có thể được dùng để điều trị thử trong 1 - 2 tháng để xác định xem có hiệu quả không.

Tiên lượng

Nhức đầu do áp lực là một rối loạn sức khỏe vô hại và đáp ứng tốt với những loại thuốc giảm đau thường hay được sử dụng những khi bất chợt bị nhức đầu. Một số bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực từng hồi nếu lạm dụng thuốc có thể làm cho nhức đầu tiến triển thành mạn tính.

Hiện tại chưa có nghiên cứu nào phát hiện ra mối liên hệ của nhức đầu do áp lực với những bệnh diễn tiến nặng hơn hoặc đe dọa mạng sống. Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào đánh giá chuyên biệt nhức đầu do áp lực thể mạn tính. Tiên lượng của những bệnh nhân bị nhức đầu do áp lực thể mạn tính vẫn chưa được hiểu rõ.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Thursday, August 26, 2010

Nhức đầu chùm

Nhức đầu chùm

Nhức đầu chùm là một trong những loại nhức đầu gây đau đớn nhất. Tính chất đặc biệt của nhức đầu chùm là cơn đau xuất hiện theo chu kỳ, hay thành chuỗi - do đó nó mới có cái tên là "nhức đầu chùm".

Một đợt nhức đầu có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng và thường theo sau đó là một giai đoạn thuyên giảm, khi đó bệnh nhân hết nhức đầu hoàn toàn. Chu kỳ nhức đầu thay đổi tùy theo người, nhưng hầu hết bệnh nhân đều bị 1 hay 2 đợt nhức đầu mỗi năm. Trong giai đoạn thuyên giảm, sẽ không có một cơn nhức đầu nào xảy ra trong vòng vài tháng, và đôi khi là đến vài năm.

Nhức đầu chùm ít gặp và cũng không gây đe dọa tính mạng. Điều trị nhức đầu chùm có thể giúp cho cơn đau diễn ra ngắn hơn và ít nặng nề hơn. Ngoài ra, những phương pháp phòng ngừa có thể giúp làm giảm số lần xuất hiện cơn đau.


TRIỆU CHỨNG

Nhức đầu chùm diễn ra nhanh chóng và thường không có dấu hiệu báo động. Những dấu hiệu và triệu chứng thường gặp là:

  • Đau nhức nặng thường ở xung quanh mắt, nhưng cũng có thể lan ra những khu vực khác như mặt, đầu, cổ và vai.
  • Đau chỉ ở một bên.
  • Bệnh nhân không chịu ngồi yên 1 chỗ
  • Tiết nước mắt nhiều
  • Đỏ mắt ở bên đau
  • Nghẹt hay chảy nước mũi ở bên đau
  • Vã mồ hôi, hoặc tái nhạt ở mặt
  • Sưng, phù nề xung quanh mắt ở bên đau
  • Giảm kích thước đồng tử
  • Mí mắt rũ xuống

Cơn đau thường được mô tả như là một cảm giác chói, xuyên thủng hoặc bỏng rát. Những bệnh nhân bị nhức đầu chùm mô tả cảm giác của họ khi bị đau như là bị một que lửa nóng đâm vào mắt hoặc mắt như bị đẩy ra khỏi hốc mắt. Những bệnh nhân nhức đầu chùm không ngồi yên một chỗ mà thường đi qua lại hoặc ngồi đung đưa đầu liên tục theo hướng trước - sau để làm dịu cơn đau. Ngược với nhức đầu migraine, những bệnh nhân nhức đầu chùm thường tránh phải nằm khi bị đau do tư thế này có vẻ như làm cho cơn đau tăng lên.

Có một số triệu chứng tương tự như nhức đầu migrainenôn ói, nhạy cảm với ánh sáng và tiếng động, choáng cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân nhức đầu chùm.

Tính chất của đợt nhức đầu

Nhức đầu chùm thường kéo dài từ 1 đến 12 tuần. Ngày khởi đầu và độ dài của mỗi đợt nhức đầu có thể giống nhau từ đợt này sang đợt khác. Ví dụ như những đợt nhức đầu chùm có thể xảy ra theo mùa, chẳng hạn như xảy ra vào mỗi mùa xuân hay mỗi mùa thu.

Hầu hết những bệnh nhân nhức đầu chùm thể từng hồi, có nghĩa là nhức đầu chùm xảy ra trong khoảng từ 1 tuần đến 1 năm, sẽ có một khoảng thời gian thuyên giảm có thể kéo dài từ 6 đến 12 tháng trước khi đợt nhức đầu kế tiếp xảy ra. Những đợt nhức đầu chùm mạn tính có thể tiếp tục trong hơn 1 năm, hoặc những đợt thuyên giảm có thời gian ít hơn 1 tháng.

Trong đợt nhức đầu:

  • Cơn nhức đầu thường xảy ra mỗi ngày, đôi khi là vài lần mỗi ngày.
  • Mỗi cơn có thể kéo dài từ 15 phút đến 3 giờ.
  • Cơn thường xuất hiện vào cùng một giờ trong ngày.
  • Phần lớn cơn nhức đầu xuất hiện vào khoảng từ 9 giờ tối đến 9 giờ sáng.

Cơn đau thường chấm dứt cũng đột ngột như khi nó xuất hiện với cường độ cơn đau giảm đi một cách nhanh chóng. Sau cơn đau, hầu hết bệnh nhân cảm thấy hoàn toàn hết đau nhưng rất mệt mỏi.

Khi nào cần đi khám

Nếu bạn mới bị nhức đầu chùm lần đầu tiên, bạn nên đi khám bệnh để loai trừ những nguyên nhân gây nhức đầu khác và tìm ra cách điều trị hiệu quả nhất. Những cơn nhức đầu, ngay cả khi rất nặng, thường không phải là kết quả của một bệnh nào đó, nhưng những cơn nhức đầu đôi khi cũng là biểu hiện của một bệnh nặng chẳng hạn như u não hoặc vỡ những mạch máu bị yếu (phình mạch). Ngoài ra, nếu bạn đã từng bị nhức đầu trước đây, hãy đến gặp bác sĩ nếu như chu kỳ hoặc tính chất của những cơn nhức đầu thay đổi.

Hãy đến gặp bác sĩ hoặc đến phòng cấp cứu ngay lập tức nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào dưới đây:

  • Nhức đầu nặng và đột ngột, thường giống như sét đánh.
  • Nhức đầu kèm với sốt, cổ gượng, tai biến, tê hoặc nói khó. Đó có thể là biểu hiện của một số bệnh như đột quỵ, viêm màng não, viêm nãou não. hoặc
  • Nhức đầu sau chấn thương ở đầu, ngay cả khi đó là một cú té hay va chạm nhẹ, đặc biệt là khi nhức đầu nặng hơn.
  • Cơn nhức đầu nặng và diễn ra đột ngột không giống như bất cứ cơn nhức đầu nào mà bạn đã từng bị trước đây.

NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân chính xác gây nhức đầu chùm vẫn chưa được biết rõ, tuy nhiên có thể sự bất thường ở vùng hạ đồi đóng một vai trò nào đó. Nhức đầu chùm thường diễn ra với chu kỳ đều đặn như đồng hồ trong ngày, và chu kỳ của những đợt nhức đầu chùm thường liên quan đến các mùa trong năm. Những chu kỳ trên gợi ý cho chúng ta thấy rằng có thể đồng hồ sinh học của cơ thể có tham gia một vai trò nào đó. Ở người, đồng hồ sinh học nằm ở vùng hạ đồi là khu vực nằm sâu trong trung tâm não. Bất thường vùng hạ đồi có thể giải thích được tính chất thời gian và chu kỳ của nhức đầu chùm. Một số nghiên cứu đã phát hiện được có sự gia tăng hoạt động ở vùng hạ đồi trong cơn đau của bệnh nhân bị nhức đầu chùm.

Một số yếu tố khác có thể liên quan đến tiến triển của nhức đầu chùm bao gồm:

  • Hormon. Những bệnh nhân nhức đầu chùm có bất thường về nồng độ của một số hormon trong cơ thể, chẳng hạn như melatonin và cortisol, trong đợt nhức đầu.
  • Những chất dẫn truyền thần kinh. Sự thay đổi nồng độ của một số chất hóa học có chức năng chuyên chở các tín hiệu trong não, như serotonin, cũng có thể có vai trò trong nhức đầu chùm.

Không giống như nhức đầu migrainenhức đầu do áp lực, nhức đầu chùm thường không có yếu tố kích thích chẳng hạn như thức ăn, thay đổi hormon, hoặc stress. Nhưng khi đang trong đợt nhức đầu chùm, uống rượu có thể gây kích thích những cơn nhức đầu dữ dội. Do đó, nhiều bệnh nhân bị nhức đầu chùm nên tránh uống rượu trong khoảng thời gian xảy ra cơn. Những kích thích khác có thể gặp bao gồm sử dụng một số loại thuốc, chẳng hạn như nitroglycerin, là một loại thuốc dùng để điều trị bệnh tim.


YẾU TỐ NGUY CƠ

Những yếu tố nguy cơ của nhức đầu chùm bao gồm:

  • Là nam giới. Nam giới bị nhức đầu chùm nhiều hơn nữ.
  • Là người trưởng thành. Hầu hết những bệnh nhân bị nhức đầu chùm lần đầu tiên vào khoảng cuối những năm 20 tuổi, tuy nhiên nhức đầu chùm có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào.
  • Là người da đen. Người da đen bị nhiều hơn người da trắng.
  • Hút thuốc lá. Nhiều cơn nhức đầu xuất hiện khi bệnh nhân hút thuốc lá.
  • Uống rượu. Rượu có thể kích thích gây nhức đầu nếu bạn đang trong nguy cơ bị nhức đầu chùm.
  • Tiền sử gia đình. Nếu cha mẹ hay anh chị em ruột đã từng bị nhức đầu chùm, bạn rất có khả năng cũng bị bệnh như vậy.

CHUẨN BỊ ĐI KHÁM

Thông thường bệnh nhân có khuynh hướng đi khám tổng quát. Tuy nhiên, cũng có thể bệnh nhân thích đến gặp ngay một bác sĩ chuyên gia thần kinh hơn.

Do một lượt khám có thể rất ngắn và thường có nhiều vấn đề cần giải quyết nên sẽ rất tốt nếu bạn chuẩn bị tốt cho lượt khám của mình. Dưới đây là một số thông tin giúp bạn sẵn sàng cho đợt khám của mình và những câu bác sĩ sẽ hỏi.

Những việc bạn có thể làm

  • Ghi nhận lại bất kỳ triệu chứng nào mà bạn cảm nhận được, bao gồm cả những triệu chứng có vẻ như không liên quan đến lý do đi khám bệnh của bạn. Cố gắng theo dõi thời điểm nhức đầu, khoảng thời gian kéo dài và bạn đang làm gì ngay trước khi cơn nhức đầu xuất hiện.
  • Ghi nhận những thông tin cá nhân như những lần stress nặng nề hay những thay đổi trong cuộc sống mà bạn đã trải qua gần đây.
  • Ghi lại danh sách những loại thuốc bạn đang dùng cũng như những loại vitamin hay những thuốc hỗ trợ khác và nói với bác sĩ.
  • Ghi lại những câu cần hỏi bác sĩ.

Thời gian của bạn với bác sĩ có giới hạn, do đó việc chuẩn bị danh sách các câu hỏi sẽ có thể giúp bạn tận dụng được tối đa khoảng thời gian này. Hãy liệt kê các câu hỏi của bạn theo thứ tự từ quan trọng nhất đến ít quan trọng nhất để phòng trường hợp không đủ thời gian. Đối với bênh nhức đầu chùm, một số câu hỏi cơ bản cần hỏi bác sĩ bao gồm:

  • Nguyên nhân nào có khả năng gây ra triệu chứng của tôi nhiều nhất?
  • Có thể có những nguyên nhân khác gây ra những triệu chứng đó không?
  • Tôi cần phải làm những xét nghiệm gì? Những xét nghiệm đó sẽ giúp loại trừ được những bệnh nào?
  • Bệnh của tôi là tạm thời hay mạn tính?
  • Có thể điều trị bằng những cách nào? Theo bác sĩ thì tôi nên chọn cách nào?
  • Có cách điều trị thay thế nào so với cách điều trị chính mà bác sĩ đã đề nghị?
  • Tôi còn có một số bệnh khác. Làm cách nào để có thể điều trị chúng cùng lúc một cách tốt nhất?
  • Tôi có cần phải kiêng, không được làm điều gì không?
  • Tôi có cần phải đi khám chuyên khoa không?
  • Có loại thuốc phổ thông (generic) nào thay thế được loại thuốc mà bác sĩ đã kê toa cho tôi không?
  • Những tác dụng phụ thường gặp của loại thuốc mà bác sĩ đã kê toa cho tôi là gì?
  • Có những tờ bướm hay tài liệu nào tôi có thể mang về nhà không? Có website nào nên đọc về vấn đề của tôi không?

Ngoài những câu bạn đã chuẩn bị để hỏi bác sĩ, đừng e ngại khi đặt những câu hỏi khác nếu như bạn không hiểu một điều gì đó.

Những câu bác sĩ sẽ hỏi

Bác sĩ có thể sẽ hỏi bạn một số câu hỏi. Chuẩn bị sẵn sàng câu trả lời cho những câu hỏi đó có thể giúp tiết kiệm thời gian. Bác sĩ có thể hỏi những câu sau:

  • Bạn bắt đầu thấy xuất hiện triệu chứng đầu tiên vào lúc nào?
  • Những triệu chứng của bạn tiếp tục kéo dài hoặc đôi khi mới xuất hiện?
  • Những triệu chứng của bạn có khuynh hướng xảy ra cùng một thời điểm trong ngày không? Nó có xảy ra vào cùng một mùa trong năm không?
  • Rượu có gây ra những triệu chứng của bạn không?
  • Mức độ nặng của những triệu chứng của bạn như thế nào?
  • Những yếu tố nào làm cho những triệu chứng của bạn giảm đi (nếu có)?
  • Những yếu tố nào làm cho những triệu chứng của bạn tăng lên (nếu có)?

KHÁM VÀ CHẨN ĐOÁN

Nhức đầu chùm có kiểu đau đặc trưng riêng và chu kỳ xuất hiện của các cơn. Quá trình chẩn đoán dựa vào sự mô tả của bạn về cơn bệnh, bao gồm cơn đau, vị trị và độ nặng cùng với những triệu chứng kèm theo. Tần số và độ dài của cơn cũng là những yếu tố quan trọng.

Nếu bạn bị nhức đầu mạn tính hoặc tái phát, bác sĩ sẽ cố gắng xác định loại và nguyên nhân gây nhức đầu bằng một số cách.

Khám và xét nghiệm

  • Khám thần kinh. Khám thần kinh có thể sẽ giúp bác sĩ phát hiện ra những dấu hiệu thực thể của nhức đầu chùm. Đôi khi, đồng tử của mắt sẽ nhỏ lại, hoặc mí mắt sẽ rũ xuống ngay cả ở thời điểm giữa các cơn đau.
  • Khảo sát hình ảnh. Nếu cơn nhức đầu của bạn phức tạp hay bất thường, hoặc phát hiện bất thường khi khám thần kinh, bạn có thể sẽ phải trải qua một số xét nghiệm chẩn đoán để loại trừ những nguyên nhân nghiêm trọng gây nhức đầu, chẳng hạn như khối u hoặc phình mạch. Hai khảo sát hình ảnh về não thông dụng nhất là CTMRI. CT là kỹ thuật dùng một chuỗi tia X trực tiếp được vi tính hóa để tạo ra một hình ảnh toàn diện của não. MRI không dùng tia X mà nó phối hợp giữa từ trường và sóng radio cùng với vi tính để cho ra hình ảnh rõ ràng của não.

Theo dõi nhức đầu

Một trong những việc có ích nhất mà bạn có thể làm là theo dõi cơn nhức đầu mỗi ngày trong ít nhất 2 tháng. Mỗi khi bị nhức đầu, hãy ghi nhận lại những thông tin sau:

  • Mô tả cơn đau
  • Độ nặng cơn đau
  • Vị trí cơn đau
  • Khoảng thời gian kéo dài của cơn đau
  • Những loại thuốc bạn đang dùng
  • Thời điểm
  • Bạn đang làm gì
  • Bạn đang ăn gì hay uống gì.

Bảng theo dõi này có thể là một đầu mối giá trị giúp bác sĩ chẩn đoán được loại nhức đầu của bạn và khám phá được những tác nhân kích thích gây nhức đầu.

ĐIỀU TRỊ

Không có cách điều trị khỏi hẳn bệnh nhức đầu chùm. Mục tiêu điều trị là giúp làm giảm bớt độ nặng của cơn đau và làm những đợt nhức đầu ngắn lại.

Do cơn nhức đầu trong nhức đầu chùm xuất hiện bất ngờ và có thể giảm trong một khoảng thời gian ngắn nên những thuốc giảm đau thông dụng như aspirin hay ibuprofen (Advil, Motrin, và những loại khác) không có hiệu quả. Cơn nhức đầu thường hết trước khi thuốc bắt đầu có tác dụng. Tuy nhiên cũng có những loại thuốc giảm đau khác có tác dụng điều trị nhức đầu tức thời. Việc điều trị nhức đầu chùm tập trung vào phòng bệnh hơn và có nhiều lựa chọn điều trị hơn.

Điều trị cấp

Những cách điều trị có hiệu quả nhanh bao gồm:

  • Oxy. Hít oxy 100% qua mặt nạ ở tần số 7- 10 lít/phút trong một thời gian ngắn có thể giúp giảm đau cho hầu hết bệnh nhân. Tác dụng của các điều trị an toàn và rẻ tiền này có thể cảm nhận được trong vòng 15 phút. Mặt bất lợi chính của phương pháp này là cần phải mang bình oxy đi theo khắp nơi nên có thể sẽ bất lợi và khó thực hiện được tức thời. Vẫn có những loại bình oxy nhỏ, dễ mang theo nhưng một số người vẫn cảm thấy bất lợi. Đôi khi oxy chỉ làm chậm lại chứ không làm chấm dứt cơn đau, và cơn đau có khả năng quay trở lại.
  • Triptan. Dạng sumatriptan (Imitrex) dùng qua đường tiêm thường được dùng để điều trị nhức đầu migraine cũng có tác dụng điều trị tức thời đối với nhức đầu chùm. Một số người đáp ứng tốt với sumatriptan dạng xịt qua mũi nhưng đối với hầu hết mọi người thì dạng này vẫn không hiệu quả bằng dạng tiêm. Sumatriptan không được khuyến khích dùng ở những người bị tăng huyết áp không kiểm soát hoặc bệnh thiếu máu cơ tim. Một loại thuốc Triptan khác là zolmitriptan (Zomig) có thể được sử dụng dưới dạng xịt qua mũi cũng có thể làm giảm nhức đầu chùm. Loại thuốc này có thể là lựa chọn tốt nếu bạn không dung nạp tốt với những dạng điều trị tức thời khác.
  • Dihydroergotamine. Dẫn xuất này được sử dụng dưới dạng tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp và dạng hít. Dihydroergotamine (D.H.E. 45, Migranal) có tác dụng giảm đau hiệu quả ở một số bệnh nhân bị nhức đầu chùm. Khi tiêm tĩnh mạch, bạn cần phải đến bệnh viện hoặc phòng khám. Dạng hít có tác dụng chậm hơn.
  • Octreotide (Sandostatin, Sandostatin LAR). Là phiên bản nhân tạo dùng qua đường tiêm của hormon não có tên là somatostatin, là cách điều trị nhức đầu chùm hiệu quả và an toàn đối với những bệnh nhân bị tăng huyết áp và thiếu máu cơ tim.
  • Thuốc tê tại chỗ. Những thuốc có tác dụng tê tại chỗ, chẳng hạn như lidocaine (Xylocaine), có thể có hiệu quả đối với những cơn nhức đầu chùm khi được sử dụng dưới dạng thuốc nhỏ mũi.

Phẫu thuật

Trong một số ít trường hợp, phẫu thuật được lựa chọn để điều trị cho những bệnh nhân nhức đầu chùm mạn tính không đáp ứng tốt với điều trị tích cực hoặc không thể dung nạp được với thuốc hay những tác dụng phụ của chúng. Những ứng cử viên cho lựa chọn điều trị bằng phẫu thuật là những người bị nhức chỉ ở một bên đầu do phẫu thuật chỉ có thể tiến hành được ở một bên.

Có một số cách phẫu thuật được sử dụng để điều trị nhức đầu chùm. Những phương pháp này có mục đích làm tổn thương đường dẫn truyền thần kinh được cho là gây ra cơn đau. Tuy nhiên, phẫu thuật có thể dẫn đến yếu cơ hàm hoặc mất cảm giác ở một số vùng ở mặt và đầu. Một số lựa chọn phẫu thuật bao gồm:

  • Phẫu thuật quy ước. Dùng cách phẫu thuật xâm lấn quy ước, bác sĩ sẽ cắt một phần dây thần kinh sinh ba - là dây thần kinh cung cấp cho khu vực phía sau và xung quanh mắt - bằng dao mổ hoặc dùng dao điện đốt để hủy một phần của dây thần kinh. Cách phẫu thuật này có thể làm giảm đau nhưng gây nguy cơ nghiêm trọng cho mắt. Hiện nay nó không còn là lựa chọn đầu tiên của các bác sĩ nữa.
  • Tiêm glycerol. Tiêm glycerol vào dây thần kinh mặt có thể làm giảm triệu chứng ngay lập tức và ít nguy cơ hơn những phương pháp phẫu thuật khác.

Những cách điều trị mới

Các nhà khoa học đã tìm hiểu được nhiều hơn về nguyên nhân gây nhức đầu chùm do đó họ có thể phát triển những phương pháp điều trị tuyển chọn hơn. Một hướng phát triển mới có triển vọng là sử dụng thiết bị để kích thích thần kinh chẩm, gây ảnh hưởng đến thần kinh sinh ba. Để điều trị những bệnh nhân bị nhức đầu chùm thường xuyên, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm một máy kích thích có kích thước bằng một pacemaker (máy tạo nhịp tim) gửi tín hiệu qua các điện cực - được cấy vào trên dây thần kinh chẩm. Một số nghiên cứu nhỏ khác, trong đó có những nghiên cứu của Mayo Clinic, về những thiết bị kích thích thần kinh chẩm được cấy vào cơ thể đã phát hiện ra rằng những thiết bị này có khả năng giảm nhức đầu mạn tính ở một số người, và thiết bị này được dung nạp tốt và tỏ ra rất an toàn.

Những nghiên cứu tương tự bằng cách cấy những thiết bị kích thích vào vùng hạ đồi, là khu vực bên trong não liên quan đến thời điểm của những đợt nhức đầu chùm. Những thiết bị này có thể làm giảm triệu chứng ở những bệnh nhân bị nhức đầu chùm nặng, mạn tính.

Thuốc phòng ngừa

Khi những đợt nhức đầu chùm bắt đầu xuất hiện, bạn sẽ cần phải dùng những thuốc tác dụng dài thường kèm theo với những thuốc tác dụng ngắn. Sau khi đã kiểm soát được những cơn nhức đầu, bạn sẽ ngừng sử dụng những thuốc tác dụng ngắn nhưng sẽ phải tiếp tục dùng những thuốc tác dụng dài.

Những thuốc tác dụng ngắn có thể giúp ngăn những cơn nhức đầu xảy ra trong thời gian chờ đợi những thuốc tác dụng dài bắt đầu có tác dụng.

  • Corticoid. Là những thuốc kháng viêm, ví dụ như prednisone, có tác dụng ngăn ngừa nhanh. Chúng thuộc nhóm thuốc có tên là steroid. Các bác sĩ có thể kê toa corticoid nếu bạn chỉ mới bị nhức đầu chùm gần đây hoặc nếu bệnh của bạn bao gồm những đợt nhức đầu chùm ngắn và thời gian nghỉ kéo dài. Mặc dù corticoid là một lựa chọn tuyệt vời khi sử dụng trong thời gian ngắn nhưng do nó có những tác dụng phụ nặng nề nên không thể sử dụng lâu dài được.
  • Ergotamine. Ergotamine (Ergomar, hoặc những loại khác) có dạng viên đặt dưới lưỡi hoặc viên thuốc đạn để nhét vào hậu môn, được dùng trước khi đi ngủ để phòng cơn nhức đầu xảy ra vào ban đêm. Ergot rất hiệu quả nhưng không thể dùng kết hợp với Triptan được.
  • Chặn dây thần kinh. Tiêm những tác nhân có tác dụng làm tê (thuốc tê) và corticoid vào khu vực xung quanh dây thần kinh chẩm nằm phía sau đầu có thể giúp ngăn không cho tín hiệu đau di chuyển theo đường thần kinh lên não. Dây thần kinh chẩm hợp với dây thần kinh sinh ba kết nối với tất cả những cấu trúc nhạy cảm đau ở bên trong não. Chặn dây thần kinh chẩm có thể giúp giảm triệu chứng tạm thời trong thời gian chờ những thuốc tác dụng dài có tác dụng.

Những thuốc tác dụng dài. Được dùng trong toàn bộ thời gian diễn ra đợt nhức đầu chùm. Một số người bị nhức đầu chùm mạn tính có thể cần phải uống từ hai loại thuốc tác dụng kéo dài trở lên cùng một lúc.

  • Thuốc chẹn kênh calci. Chẳng hạn như verapamil (Calan, Verelan, và những loại thuốc khác) thường là lựa chọn đầu tiên để ngăn ngừa nhức đầu chùm. Đôi khi sau khi chấm dứt đợt nhức đầu chùm, thuốc sẽ được dùng giảm liều dần và ngưng thuốc dưới sự kiểm soát của bác sĩ. Đôi khi cần phải dùng lâu dài để kiểm soát bệnh nhức đầu chùm thể mạn tính. Các tác dụng phụ của thuốc bao gồm táo bón, chóng mặt, nôn ói, mệt mỏi, phù mắt cá chân và hạ đường huyết.
  • Lithium carbonate. (Lithobid, Eskalith, và những loại khác) được dùng để điều trị những rối loạn lưỡng cực, cũng có hiệu quả ngăn ngừa nhức đầu chùm mạn tính. Tác dụng phụ bao gồm run, tăng bài tiết nước tiểu và tiêu chảy. Bác sĩ có thể điều chỉnh liều để hạn chế tác dụng phụ. Khi sử dụng loại thuốc này, bạn sẽ được thử máu thường xuyên để kiểm tra xem một số tác dụng phụ nghiêm trọng có thể xảy ra, chẳng hạn như tổn thương thận.

Những loại thuốc phòng ngừa khác dùng cho nhức đầu chùm bao gồm những thuốc chống tai biến như divalproex (Depakote) và topiramate (Topamax).

THAY ĐỔI LỐI SỐNG

Những biện pháp sau có thể giúp bạn tránh những cơn nhức đầu diễn ra trong chu kỳ:

  • Ngủ đúng giờ. Đợt nhức đầu chùm có thể diễn ra khi có sự thay đổi giờ giấc ngủ bình thường do đó trong đợt nhức đầu, bạn nên ngủ đúng giờ.
  • Tránh những chất có cồn. Uống những chất có cồn, bao gồm rượu và bia, hầu như luôn là tác nhân kích thích những cơn nhức đầu diễn ra khi đang trong chu kỳ. Cơn nhức đầu có thể diễn ra rất nhanh chóng, thậm chí là ngay cả trước khi bạn uống cạn ly đầu tiên.
  • Hạn chế tiếp xúc với những chất dễ bay hơi. Tiếp xúc kéo dài với những chất dễ bay hơi như dung môi, xăng, dầu hỏa và màu vẽ làm từ dầu có thể gây nhức đầu.
  • Cẩn thận với độ cao. Trong chu kỳ của bệnh, sự sụt giảm nồng độ oxy khi ở những vùng cao có thể gây nhức đầu.
  • Tránh thuốc lá. Nicotine có thể gây nhức đầu khi đang trong chu kỳ. Nếu bạn có nguy cơ bị nhức đầu chùm, tốt nhất là hãy ngừng hút thuốc và tránh những sản phẩm làm từ thuốc lá khác.
  • Tránh nitrate. Trong chu kỳ bệnh, nitrate có thể làm khởi phát nhức đầu ở một số người. Những thức ăn có chứa nitrate bao gồm thịt ám khói và đã được chế biến. Một số loại thuốc như nitroglycerin cũng có thể có chứa nitrate.

ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ

Do nhức đầu chùm gây đau đớn rất nhiều, nên bệnh nhân có khuynh hướng cố gắng tìm những biện pháp điều trị hỗ trợ để giảm đau. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát gần đây ở những bệnh nhân nhức đầu chùm cố thử những phương pháp điều trị hỗ trợ như châm cứu, nắn khớp, vi lượng đồng căn đã cho thấy rằng có ít hơn 10% bệnh nhân cảm thấy những phương pháp trên có hiệu quả.

Do những thực phẩm chức năng có bán sẵn ở các quầy thuốc nên một số người quay sang sử dụng chúng để tìm cách giảm những cơn đau trong nhức đầu chùm. Một trong số đó là melatonin, được xem là có thể làm giảm mức độ ở những bệnh nhân nhức đầu chùm. Tuy nhiên cách điều trị bằng melatonine vẫn chưa được chứng minh là cách điều trị hiệu quả để né tránh những cơn nhức đầu. Hãy chắc chắn rằng mình đã hỏi ý kiến bác sĩ trước khi thử bất kỳ loại thực phẩm chức năng nào do chúng có thể gây phản ứng với những loại thuốc mà bạn đang dùng.

PHÒNG NGỪA

Do nguyên nhân gây nhức đầu chùm vẫn chưa được biết nên bạn không thể ngăn chặn cơn đau đầu tiên. Tuy nhiên, chiến lược phòng ngừa là yếu tố quyết định trong việc kiểm soát nhức đầu chùm do việc cố gắng điều trị nó với chỉ một loại thuốc tác dụng cấp thời có thể được xem là vô vọng. Ngăn ngừa có thể giúp làm giảm tần số cũng như độ nặng của cơn nhức đầu và nguy cơ bị nhức đầu trở lại. Những thuốc phòng ngừa cũng làm tăng hiệu quả của những thuốc tác dụng cấp thời.

Ngoài ra, bạn còn có thể làm giảm nguy cơ bị những cơn nhức đầu khác trong tương lai bằng cách tránh rượu bia và nicotine vốn là những chất có khả năng thúc đẩy cơn nhức đầu chùm.

Theo Mayo Clinic - Y học NET dịch

Girls Generation - Korean