Tuesday, June 29, 2010

Các Biến Chứng Ổ Mắt Của Viêm Xoang

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Cac_Bien_Chung_O_Mat_Cua_Viem_Xoang_731202734.jpg&size=article_medium
Nhiễm trùng ổ mắt do viêm xoang là một biến chứng nghiêm trọng, đe doạ thị lực, thậm chí là tính mạng bệnh nhân.

Trong kỷ nguyên trước khi có kháng sinh, tỷ lệ mù mắt và chết bởi nhiễm trùng ổ mắt gây ra do viêm xoang là 17-20,5%. Tỷ lệ này đã giảm dần chỉ còn khoảng 3-11% và tỷ lệ tử vọng còn khoảng 1-2,5%. Nhiễm trùng xoang vào ổ mắt có thể trực tiếp qua lỗ thần kinh, mạch máu hoặc qua các khe hở bẩm sinh hoặc thứ phát củâ xương và có thể gián tiếp qua các tĩnh mạch của xoang vào ổ mắt.

Do các xoang nằm ngay sát ổ mắt, đặc biệt là các xoang sàng chỉ cách ổ mắt một vách xương rất mỏng như tờ giấy, vì vậy, viêm xoang nhất là những đợt cấp tính ổ mủ trong xoang, có thể phá vỡ thành xương này lan vào ổ mắt hoặc quá trình viêm có thể đi theo các mạch máu ở xoang sàng vào ổ mắt. Dấu hiệu đầu tiên thường là phù nề các mí mắt, đỏ mắt, lồi mắt tăng dần và sốt cao. Trong giai đoạn đầu, nhãn cầu còn có thể cử động được và nếu soi đáy mắt sẽ cho kết quả bình thường. Nhưng nếu để tiến triển nặng lên nữa, đến mức nhãn cầu hạn chế hoặc không cử động được, kèm theo phù nề kết mạc mắt thì soi đáy mắt sẽ thấy tổn thương, nặng hơn nữa có thể tạo thành áp xe trong ổ mắt. Biến chứng ổ mắt có những mức độ nặng nhẹ khác nhau, từ viêm phù nề mi mắt, viêm mô tế bào ổ mắt cho đến áp xe ổ mắt, và xấu nhất là viêm tĩnh mạch xoang hang.

Phát hiện biến chứng

Ngày nay, với các phương pháp chụp cắt lớp vi tính giúp cho các bác sĩ có thể chấn đoán được sớm và chính xác các biến chứng này.

Viêm xoang trán cũng có thể dẫn đến các biến chứng ổ mắt vì sàn của xoang trán chính là thành trên của ổ mắt, đây là thành mỏng nhất của xoang. Một áp xe có thể được hình thành dọc theo sàn ổ mắt và đẩy lệch nhau cầu xuống dưới và ra ngoài, Khi nhiễm trùng lan rộng có thể gây cốt tuỷ viêm xương trán và hình thành ổ áp xe ở dưới màng xương và tạo ra một khối sưng phòng dưới da vùng trán hoặc gây nên lỗ rò ở mi mắt trên.

Điều trị

Nhiễm trùng ổ mắt và viêm mô tế bào có thể được điều trị với mô dẫn lưu xoang và kháng sinh dưỡng tĩnh mạch. Bệnh nhân cần phải nhập viện và được theo dõi cẩn thận để phòng các biến chứng đặc biệt gây nên viêm tắc tĩnh mạch xoang hang. Khi áp xe phát triển và giới hạn trong ổ mắt thì phẫu thuật là bắt buộc. Sự trì hoãn có thể dẫn đến giảm hoặc mù mắt, đặc biệt biến chứng có thể lan vào nội sọ.

Chỉ định mổ

Chỉ định mổ được thực hiện khi:


Viêm mổ tế bào ổ mắt tiến triển mặc dù đã điều trị kháng sinh phù hợp.

Các dấu hiệu như: sốt, ban đỏ, phù nề, lồi mắt.

Phim chụp cắt lớp vi tính có hình ảnh ổ áp xe sau nhãn cầu.

Nhãn cầu bị cố định hoàn toàn.

Tóm lại, viêm xoang là một bệnh rất phổ biến và có thể gây nên những biến chứng kế cận, đặc biệt là ổ mắt. Cần phải phát hiện sớm các biến chứng ổ mắt để có phương pháp xử trí kịp thời tránh các biến chứng mù mắt hoặc tử vong do viêm tắc tĩnh mạch xoang hang hoặc áp xe não.

Bệnh học da liẽu 2010

Với hàng trăm hình ảnh màu minh họa đầy màu sắc, cuốn sách Này trình bày rõ ràng mạch lạc và chi tiết với 37 chương bao trùm hầu hết các bệnh lý da liễu thường gặp trên thế giới , cập nhật đến năm 2010 !

Với sự cập nhật liên tục các thông tin trong việc phát hiện, các nghiên cứu cơ chế bệnh sinh, phương pháp điều trị bệnh Da liễu tiên tiến trên thế giới bởi các chuyên gia hàng đầu trên thế giới, đây thực sự là một tài liệu tra cứu nghiêm túc khoa học và chất lượng cũng như có độ tin cậy cao cho các bác sĩ da liễu .

Cuốn sách bao trmf một phạm vi rộng lớn tất cả các bệnh da liễu, từ quá trình viêm, không viêm, nhiễm trùng và sự tăng sinh u máu, Ung thư, các rối loạn móng tay móng chân, niêm mạc miệng,...

Cập nhật của bản năm 2010 :

* MỚI ! Chương mới về thí nghiệm,hóa mô để chẩn đoán xác định, giải thích cơ chế bệnh sinh và tiên lượng.
*MỚI ! Cập nhật các thông tin quan trọng về quá trình viêm, nhiễm trùng,u mạch,u lympho, và các khối u xác định khác.
* MỚI ! Các phương pháp nhuộm đặc biệt , các phương pháo xét nghiệm kháng thể đơn dòng và huỳnh quang miễn dịch.
*MỚI ! Dễ dàng truy cập vào các bảng, tóm tắt ở đầu chương và cuối chương.
* MỚI ! Hiện tại đã có ngân hàng hình ảnh trực tuyến bao gồm tất cả các hình ảnh có trong cuốn sách này , bạn có thể truy cập vào trang web chín thức www.dermatopathologybook.com để biết thêm chi tiết .

Lê Sáng MD dịch từ www.dermatopathologybook.com

TẢI SÁCH :

KẾT HỢP 3 PHẦN BẰNG PHẦN MỀM GIẢI NÉN WINRAR, KHÔNG CẦN Password)
.

Monday, June 28, 2010

Viêm Xoang Cấp, Mạn Tính

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Viem_Xoang_Cap_Man_Tinh_387518193.jpg&size=article_medium
Là bệnh rất phổ biến ở Việt Nam, phân loại viêm xoang cấp và mạn tính thực chất chỉ là phân biệt cách xử trí: cấp thường điều trị nội khoa, còn mạn thì phải điều trị ngoại.

Viêm xoang cấp theo thứ tự thường gặp là: viêm xoang hàm, xoang sàng, xoang trán, xoang bướm. Đôi khi xảy ra viêm nhiều xoang cùng một lúc.

Nguyên nhân
: phổ biến nhất là do viêm mũi, do cảm, cúm, đôi khi do viêm họng, do răng. Ngoài ra có thể do tắm (nhảy cầu, lặn) do chấn thương, do áp lực thay đổi đột ngột khi đi máy bay do dị vật ở mũi...do biến chứng gây viêm xoang của các bệnh cúm, sởi, ho gà, viêm phổi do phế cầu khuẩn.

- Vi sinh vật gây viêm xoang cũng là những vi sinh vật gây viêm nhiễm đường hô hấp trên

Yếu tố thuận lợi: môi trường ô nhiễm, ăn ở kém vệ sinh, vẹo vách ngăn, dị ứng, u lành, u độc ở mũi; tình trạng của phổi, phế quản: viêm xoang- giãn phế quản, kết hợp viêm xoang- giãn phế quản với dị tật tim sang phải

Các thể viêm xoang cấp tính

Viêm xoang trán cấp
: ít khi đơn thuần, thường phối hợp với viêm xoang sàng trước. Khởi đầu như một sổ mũi thông thường kéo dài 5-6 ngày rồi xuất hiện những cơn đau đặc biệt của viêm xoang trán: cơn đau phía trên ổ mắt, một bên và có 2 chu kỳ mỗi ngày. Cơn đau tăng dần từ sáng đến giữa trưa thì đạt mức tối đa, lúc đó mũi chảy nhiều mủ, xoang vơi đi và cơn đau dịu xuống, đến chiều lại tái diễn cơn đau đó. Đôi khi kèm chảy nước mắt, mắt đưa đi đưa lại cũng đau, da vùng xoang tưng cảm giác, chỉ sờ cũng đau, ấn dây thần kinh trên hố mắt ở góc trên- trong ổ mắt cũng đau nhói

Viêm xoang hàm cấp: bắt đầu như sổ mũi thông thường nhưng kéo dài rồi xuất hiện cơn đau ở vùng dưới ổ mắt, một bên, đau xuyên về một phía hàm răng, đau tăng khi gắng sức, khi nhai, khi nằm. Có điểm đau rõ dưới ổ mắt, hốc mũi xung huyết, thường tiến triển tốt trong 10 ngày.

- Trường hợp viêm xoang do răng, thường có sâu răng hàm nhỏ hoặc răng hàm, ổ áp xe quanh răng, mủ chảy vào trong xoang. Bệnh nhân đau nhức răng dữ dội, lợi quanh răng thường sưng, vài ngày sau mủ thối đổ ồ ạt vào xoang. Nhổ bỏ răng sâu bệnh khỏi nhanh chóng

Viêm xoang sàng cấp ở trẻ em: Có thể gặp ở thời kỳ 2-4 tuổi. Triệu chứng biểu hiện chủ yếu ở mắt: sau khi sổ mũi, mí mắt trên và dưới nề đỏ, sưng húp, không mở được mắt, nhiệt độ không cao, vạch mí không thấy có tổn thương nhãn cầu.

Viêm xương tủy hàm trên, giả dạng viêm xoang hàm
: xuất hiện ở trẻ còn bú thường từ 1-3 tháng, thường do nhiễm tụ cầu khuẩn của xương hàm trên. Triệu chứng: nhiễm khuẩn nặng: mí mắt dưới mọng đỏ, má sưng, mũi chảy mủ, lợi răng cũng thấy sưng, có khi có lỗ rò

Điều trị - Chống nhiễm khuẩn và dẫn lưu: kháng sinh kết hợp với các thuốc chống viêm, corticoid được dùng khi có ứ đọng mủ, dùng thuốc giảm xung huyết.

Viêm xoang mạn tính

Viêm xoang trở thành mạn tính là do ổ viêm xương ở thành xoang như viêm xoang do răng. Mạn tính liên quan đến sự biến đổi không phục hổi của niêm mạc

Nguyên nhân: tương tự viêm xoang cấp.

Triệu chứng:

- Nhiều người không cảm thấy đau, nhưng nhức đầu hoặc nhức vùng mặt

- Ngạt mũi, mũi chảy nhày mủ kéo dài tái phát.

- ở trẻ nhỏ do nuốt phải chất dịch tiết thường gây viêm phế quản tái diến, viêm dạ dày-ruột non, ho từng cơn

Điều trị : Tùy thuộc niêm mạc lót có tổn thương không mà điều trị bảo tồn hay điều trị ngoại

- Điều trị bảo tồn: kháng sinh, kháng histamin, thuốc co mạch. chọc rửa xoang, vi phẫu thuật qua mũi, cắt polip, mổ vẹo vách ngăn, chữa răng

- Điều trị tiệt căn (sau khi điều trị bảo tồn thất bại) bằng các loại thủ thuật xoang: nạo sàng qua mũi hoặc qua đường ngoài, nạo sàng hàm, mổ xoang trán, xoang bướm, mổ liên xoang, dùng phương pháp vi phẫu nhằm tái tạo lại sinh lý bình thường của xoang.

Bệnh da liễu trẻ em - atlas và giản yếu


350 ảnh màu.

Tất cả mọi thứ bạn cần để chẩn đoán và điều trị bện da liễu trẻ em !

Chẩn đoán nhanh chóng, chính xác và điều trị đầy đủ các vấn đề về da ở trẻ em
Cuốn sách này cung cấp các bức ảnh lớn, chi tiết, màu sắc đầy đủ các bệnh da ở trẻ em cùng với việc quản lý mới nhất và kiến nghị xử lý. Bạn sẽ tìm thấy tất cảọi thứ bạn cần để tự tin đánh giá, chẩn đoán, và quản lý các bệnh của da, tóc, và móng tay của bệnh nhân nhi khoa trong một môi trường lâm sàng bận rộn.
Mỗi bệnh tật hoặc rối loạn chức năng được trình bày logic dễ đọc bao gồm:
* Dịch tễ học
* Sinh lí bệnh
* Tiền sử
* Kiểm tra lâm sàng
\* Chẩn đoán sai thường gặp
* Phòng thí nghiệm đánh giá
* Tiên lượng
* Điều trị và phòng / Quản lý (với liều lượng đã được phê duyệt ở trẻ em)


Với hơn 350 hình ảnh đầy màu sắc rõ ràng, sắc nét và phạm vi bao hàm tất cả mọi thứ từ các rối loạn nhịp máu và mạch bạch huyết đến nhiễm trùng da do vi khuẩn, virus, và nấm,cuốn sách này là cách nhanh nhất và đáng tin cậy nhất để tiếp cận chẩn đoán và điều trị Bệnh Da Liễu nhi khoa.

HY VỌNG CUỐN SÁCH NÀY CÓ ÍCH CHO BẠN ĐỌC.


TẢI SÁCH :
Tải đủ 2 phần bên dưới vào 1 thư mục rồi dùng Winrar giải nén.
http://hotfile.com/dl/36653733/c913e15/Colour_atlas_and_synopsis_of_pediatric_dermatology.part1.rar.html
.
http://hotfile.com/dl/36654380/8d5f84d/Colour_atlas_and_synopsis_of_pediatric_dermatology.part2.rar.html

Hen phế quản

Hen là một loại bệnh ảnh hưởng đến đường dẫn khí của phổi (phế quản). Hen gây ra bởi quá trình viêm mạn tính (kéo dài) của phế quản. Nó làm cho phế quản, hoặc đường dẫn khí, của bệnh nhân trở nên nhạy cảm với nhiều tác nhân khác nhau.

  • Khi quá trình viêm bị kích thích bởi một số yếu tố bên trong và bên ngoài, đường thở sẽ phù nề và ứ đàm.
  • Các cơ của phế quản sẽ co lại làm cho phế quản hẹp hơn nữa.
  • Sự hẹp này làm cho khí khó có thể thoát ra được khỏi phổi (thở ra khó).
  • Hiện tượng kháng lại lực thở ra (thở ra khó) này là triệu chứng đặc trưng của bệnh hen.

Vì hen gây ra sự đề kháng, hoặc tắc nghẽn, luồng không khí thở ra, nên nó được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn. Thuật ngữ y học chỉ tình trạng này là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease). COPD là một nhóm bệnh trong đó bao gồm không chỉ có hen mà còn có viêm phế quản mạn tính và khí phế thủng.

Cũng như các bệnh mạn tính khác, hen là một bệnh mà bạn phải chịu đựng nó hằng ngày trong suốt cuộc đời. Bạn có thể bị lên cơn hen bất cứ khi nào bạn tiếp xúc với một trong những dị nguyên của bạn. Không giống như các bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khác, hen có thể phục hồi được.

  • Hen không thể chữa khỏi được nhưng có thể kiểm soát được.
  • Bạn có cơ hội kiểm soát được hen nhiều hơn nếu như được chẩn đoán sớm và bắt đầu điều trị ngay sau đó.
  • Nếu được điều trị thích hợp, bệnh nhân hen có thể sẽ ít lên cơn hen hơn và các cơn hen nếu có xảy ra thì cũng sẽ ít nặng nề hơn.
  • Nếu không được điều trị, có thể bệnh nhân sẽ lên cơn hen thường xuyên và nặng hơn và thậm chí có thể tử vong.

Hiện nay, hen gặp nhiều hơn ở các nước phát triển. Lý do chính xác vẫn chưa được biết rõ nhưng có thể có sự góp phần của những yếu tố dưới đây:

  • Chúng ta trải qua một tuổi thơ ít phải chịu tiếp xúc với những tác nhân nhiễm trùng như ông bà ta lúc trước nên hệ miễn dịch của chúng ta cũng trở nên ít nhạy cảm hơn.
  • Chúng ta ở nhà nhiều hơn thời trước nên tiếp xúc với các yếu tố dị ứng ở trong nhà nhiều hơn chẳng hạn như bụi nhà.
  • Không khí thời nay cũng bị ô nhiễm nhiều hơn thời xưa.
  • Cách sống hiện đại làm chúng ta ít vận động hơn trước và béo phì ngày càng phổ biến. Có một vài bằng chứng cho thấy có sự liên quan giữa béo phì và hen.

Tuy nhiên, tin tốt lành là những người bị hen hoàn toàn có thể sống cho đến cuối đời. Những cách điều trị hen hiện tại nếu được tuân thủ chặt chẽ sẽ giúp bệnh nhân hen giới hạn được số lần lên cơn. Với sự giúp đỡ của các bác sĩ, bạn có thể kiểm soát được căn bệnh của mình.

NGUYÊN NHÂN

Chúng ta chưa biết được nguyên nhân chính xác gây ra hen.

  • Điểm chung của những bệnh nhân hen là đường dẫn khí của họ bị viêm mạn tính và quá mẫn với nhiều loại dị nguyên.
  • Các nghiên cứu tập trung vào vấn đề: "Tại sao người này có thể bị hen trong khi những người khác lại không bị ?"
  • Một số người khi mới sinh ra đã có khuynh hướng bị hen trong khi một số khác lại không có. Các nhà khoa học đang cố tìm ra các gen gây ra khuynh hướng này.
  • Môi trường mà bạn đang sống và cách sống của bạn xác định được một phần rằng bạn có bị lên cơn hen hay không.

Cơn hen là phản ứng của cơ thể đối với dị nguyên. Nó tương tự với phản ứng dị ứng ở nhiều điểm.

  • Phản ứng dị ứng là đáp ứng của hệ miễn dịch của cơ thể với những tác nhân lạ.
  • Khi các tế bào của hệ miễn dịch nhận thấy tác nhân lạ, chúng sẽ tạo ra một chuỗi những phản ứng giúp cơ thể chống lại.
  • Nếu chuỗi phản ứng này làm sản xuất dịch nhầy và co thắt phế quản chúng sẽ tạo ra những triệu chứng của một cơn hen.
  • Những tác nhân lạ trong bệnh hen được liệt kê ở bên dưới và chúng thay đổi tùy theo từng đối tượng.

Mỗi một bệnh nhân hen có những loại dị nguyên khác nhau. Có khi gần như tất cả những dị nguyên gây ra cơn hen ở một số người lại không gây ra triệu chứng gì ở những người còn lại. Một số dị nguyên thường gặp gây ra cơn hen có thể là:

  • Tiếp xúc với khói thuốc lá hoặc khói tạo ra bởi củi đốt.
  • Hít phải không khí ô nhiễm.
  • Hít phải những tác nhân kích thích đường hô háp khác chẳng hạn như nước hoa hoặc chất tẩy rửa.
  • Tiếp xúc với những chất kích thích đường hô hấp tại nơi làm việc.
  • hít phải những chất gây dị ứng (dị nguyên) chẳng hạn như mọt, bụi nhà hoặc lông súc vật.
  • Bị nhiễm trùng đường hô hấp trên, chẳng hạn như cảm cúm, viêm xoang hoặc viêm phế quản.
  • Thời tiết lạnh, khô.
  • Cảm xúc hưng phấn hoặc stress.
  • Vận động quá nhiều.
  • Trào ngược dịch dạ dày - còn được gọi là bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD - Gastroesophageal reflux disease)
  • Sulphit - một chất phụ gia của một số loại thức ăn và rượu.
  • Kinh nguyệt - ở một số phụ nữ (không phải là tất cả) có triệu chứng hen liên quan chặt chẽ đến chu kỳ kinh nguyệt.

Những yếu tố nguy cơ của hen

  • Sốt mùa cỏ khô (viêm mũi dị ứng) và một số chất dị nguyên khác.
  • Eczema (chàm) - một loại dị ứng khác ảnh hưởng trên da.
  • Di truyền - có cha mẹ hoặc anh chị em cũng bị hen

TRIỆU CHỨNG

Khi đường thở bị kích thích hoặc nhiễm trùng có thể gây khởi phát cơn hen. Cơn hen có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau vài ngày hay vài giờ. Những triệu chứng chính của cơn hen bao gồm:

  • Thở khò khè
  • Không thở được.
  • Co nặng ngực.
  • Ho
  • Nói khó

Những triệu chứng trên có thể xảy ra trong suốt ngày hoặc đêm. Nếu xảy ra ban đêm, có thể nó sẽ làm phá vỡ giấc ngủ của bạn.

Thở khò khè là triệu chứng thường gặp nhất của cơn hen.

  • Khò khè là tiếng rít đi kèm với nhịp thở.
  • Tiếng khò khè thường nghe thấy ở thì thở ra, tuy nhiên có cũng có thể nghe thấy được ở thì hít vào.
  • Không phải tất cả những bệnh nhân bị hen đều thở khò khè và không phải tất cả những người thở khò khè đều bị hen.

Những hướng dẫn chăm sóc cho bệnh nhân bị hen hiện nay bao gồm việc phân độ cho độ nặng của triệu chứng hen như sau:

  • Nhẹ - không liên tục: tần số xuất hiện cơn hen không quá 2 lần/tuần và triệu chứng về đêm không quá 2 tuần/tháng. Cơn hen kéo dài không quá vài giờ. Độ nặng của cơn thay đổi nhưng không có triệu chứng giữa các cơn.
  • Nhẹ - liên tục: tần số xuất hiện cơn hen nhiều hơn 2 lần/tuần nhưng không phải hằng ngày, triệu chứng về đêm nhiều hơn 2 lần/tháng. Cơn hen đôi khi có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày.
  • Trung bình - liên tục: tần số xuất hiện cơn hen và triệu chứng về đêm nhiều hơn 1 lần/tuần. Cơn hen xảy ra với cường độ nặng hơn và ít nhất là 2 lần/tuần và có thể kéo dài hằng ngày. Cần phải sử dụng thuốc tác dụng nhanh và thay đổi sinh hoạt hằng ngày.
  • Nặng - liên tục: cơn hen xảy ra thường xuyên, triệu chứng về đêm xảy ra liên tục và làm giới hạn những sinh hoạt hằng ngày.

Một bệnh nhân bị hen mức độ nhẹ hoặc trung bình cũng có thể bị lên cơn hen nặng. Độ nặng của hen có thể thay đổi theo thời gian trở nên tốt hơn hoặc xấu hơn.

KHI NÀO CẦN ĐẾN SỰ CAN THIỆP CỦA Y HỌC

Nếu bạn nghĩ chính mình hoặc con bạn bị hen, hãy đến gặp bác sĩ. Một số dấu hiệu có thể giúp bạn nghĩ đến bệnh hen bao gồm:

  • Thở khò khè
  • Khó thở
  • Đau hoặc co ép ngực
  • Ho tái phát, không đều và nặng hơn về đêm.

Nếu bạn hay con bạn bị hen, cần phải có một bảng hướng dẫn bao gồm những việc phải làm khi cơn hen xuất hiện, khi nào thì cần gọi bác sĩ và khi nào thì cần đưa đến phòng cấp cứu.

  • Hít 2 liều thuốc đồng vận beta đường xịt cách nhau 1 phút. Nếu không đỡ, xịt thêm những liều kế tiếp cách nhau mỗi 5 phút. Nếu không có đáp ứng sau 8 lần xịt (trong vòng 40 phút) thì nên đưa người bệnh đến bác sĩ.
  • Nên gọi cho bác sĩ nếu bạn đang lên cơn hen và đã dùng steroid đường uống hay được xịt hoặc tác dụng của thuốc qua đường xịt không kéo dài quá 4 giờ.
  • Trên đây chi là những hướng dẫn chung, nếu bác sĩ đề nghị một kế hoạch điều trị khác thì hãy tuân thủ theo kế hoạch đó.

Mặc dù đây là bệnh có thể hồi phục được nhưng một cơn hen nặng cũng có thể gây tử vong.

  • Nếu bạn đang lên cơn hen và thở hơi ngắn hoặc không liên lạc được với bác sĩ thì bạn cần phải đến phòng cấp cứu của bệnh viện gần nhất.
  • Không nên tự đến bệnh viện một mình, hãy đi cùng với người thân hoặc bạn bè. Nếu bạn ở một mình, hãy gọi số điện thoại cấp cứu để được chở đến bằng xe của bệnh viện.

LÂM SÀNG & CẬN LÂM SÀNG

Nếu bạn được đưa đến phòng cấp cứu vì lên cơn hen, bác sĩ sẽ đánh giá độ nặng của cơn. Cơn hen sẽ được chia ra làm các độ: nhẹ, trung bình, nặng. Sự phân độ này dựa trên một số yếu tố sau:

  • Độ nặng và thời gian kéo dài của triệu chứng.
  • Mức độ tắc nghẽn đường thở.
  • Cơn hen có làm cản trở những sinh hoạt hằng ngày hay không.

Cơn nhẹ và trung bình thường bao gồm những triệu chứng sau, có thể diễn tiến từ từ:

  • Co nặng ngực
  • Ho hoặc khạc đàm
  • Khó ngủ hoặc ngủ không ngon.
  • Khò khè.

Cơn nặng ít gặp hơn. Thường bao gồm những triệu chứng sau:

  • Không thở được
  • Nói khó
  • Căng xiết cơ cổ
  • Môi và giường móng có màu xám nhẹ hoặc xanh.
  • Lồng ngực im lặng - không có tiếng rít khi hít vào hay thở ra.

Nếu bệnh nhân có thể nói được, các bác sĩ sẽ hỏi về triệu chứng, tiền sử bệnh và thuốc đã dùng. Cố gắng trả lời càng hoàn chỉnh càng tốt. Bác sĩ cũng sẽ khám và quan sát bệnh nhân lúc đang thở.

Nếu đây là lần đầu xảy ra cơn hen, hoặc đây là lần đầu bạn đến khám vì những triệu chứng của mình, các bác sĩ sẽ đưa ra những câu hỏi và cho làm các xét nghiệm để tìm kiếm và loại trừ những nguyên nhân khác gây ra những triệu chứng đó.

Phương pháp đo khả năng thở của bạn bao gồm:

  • Phế dung ký: dùng để đo bạn hít vào bao nhiêu khí và bạn thở ra mạnh đến mức nào. Xét nghiệm này có thể được thực hiện trước và sau khi dùng thuốc xịt. Đo phế dung ký là một cách tốt để xác định xem chức năng thở của bạn đã suy giảm đến mức nào sau cơn hen.
  • Lưu lượng đỉnh: đây là một cách khác để đo độ mạch của hơi thở ra trong cơn hen.
  • Nồng độ oxy: một que thăm dò được đặt vào đầu ngón tay để đo nồng độ oxy có trong máu.

Không có một xét nghiệm máu nào có thể xác định chính xác nguyên nhân của hen.

  • Xét nghiệm máu có thể cần thiết vì là dấu hiệu của nhiễm trùng có thể là yếu tố góp phần gây ra cơn hen.
  • Ở cơn nặng, có thể cần phải lấy máu ở động mạch để xác định chính xác xem có bao nhiêu oxy và CO2 hiện diện trong cơ thể bạn.

X-quang ngực cũng có thể được thực hiện để loại trừ hầu hết những nguyên nhân khác gây ra những triệu chứng trên.

ĐIỀU TRỊ

Do hen là một bệnh mạn tính nên quá trình điều trị đòi hỏi phải kéo dài rất lâu. Một số người cần phải điều trị cho đến suốt đời. Cách tốt nhất để cải thiện tình trạng của bạn và sống theo cách của bạn là tìm hiểu tất cả những gì có thể về bệnh hen của mình và những gì bạn có thể làm để cho nó tốt hơn.

  • Trở thành một cộng sự đối với bác sĩ của bạn. Dùng những tài liệu mà bác sĩ cung cấp cho bạn - thông tin, giáo dục và ý kiến chuyên môn - để có thể tự giúp mình.
  • Nhận thức rõ về những tác nhân dị ứng và làm tất cả những gì có thể để tránh chúng.
  • Tuân thủ đúng những biện pháp điều trị mà bác sĩ khuyên. Hiểu những biện pháp điều trị của mình. Biết được công dụng và cách dùng của từng loại thuốc.
  • Đến tái khám định kỳ theo đúng lịch.
  • Thông báo cho bác sĩ biết những thay đổi hoặc nếu các triệu chứng trở nến xấu đi một cách nhanh chóng.
  • Thông báo cho bác sĩ về những tác dụng phụ của thuốc mà bạn gặp phải.

Dưới đây là những mục tiêu của việc điều trị:

  • Phòng ngừa những triệu chứng đang tiến triển và gây khó chịu.
  • Phòng ngừa xảy ra cơn hen.
  • Phòng ngừa cơn hen nặng cần phải đến khám bệnh hay đến phòng cấp cứu hoặc phải nhập viện.
  • Tiếp tục duy trì những sinh hoạt hằng ngày.
  • Giữ chức năng phổi ở mức bình thường hoặc gần bình thường
  • Giới hạn những tác dụng phụ của thuốc xuống ít nhất trong khả năng cho phép.

Tại nhà

Chế độ điều trị hiện tại được xây dựng sao cho hạn chế đến mức tối thiểu những khó chịu, bất lợi và hạn chế hoạt động thể lực. Nếu bạn tuân thủ điều trị một cách chặt chẽ, có thể bạn sẽ tránh hoặc giảm được số lần đến khám bệnh ở bác sĩ hay số lần phải đến phòng cấp cứu.

  • Nhận biết được những tác nhân gây dị ứng của mình và làm mọi cách có thể để tránh được chúng.
  • Bỏ hút thuốc.
  • Không dùng thuốc ho vì chúng không giúp ích được gì cho bệnh hen cả và còn có thể gây ra những tác dụng phụ không mong muốn nữa.
  • Aspirin và một số thuốc kháng viêm không steroid, chẳng hạn như ibuprofen, có thể làm hen nặng hơn ở một số người. Do đó, những loại thuốc này không nên được dùng mà không có lời khuyên của bác sĩ.
  • Không dùng những loại thuốc xịt không cần kê toa. Chúng chứa những hợp chất có tác dụng rất ngắn nên có thể không đủ thời gian để thoát khỏi được cơn hen và có thể gây ra những ác dụng phụ không mong muốn.
  • Chỉ dùng những thuốc mà bác sĩ kê toa.
  • Không dùng những loại thuốc nam hoặc những thực phẩm bổ sung không được kê toa, ngay cả khi chúng hoàn toàn từ tự nhiên mà không hỏi ý kiến bác sĩ trước. Một số loại trong đó có thể gây ra những tác dụng phụ không mong muốn hoặc gây cản trở tác dụng của thuốc mà bạn đang sử dụng.
  • Nếu thuốc không hiệu quả, không dùng thêm thuốc quá mức giới hạn mà bạn được kê toa. Sử dụng quá liều những thuốc điều trị hen có thể gây nguy hiểm.
  • Chuẩn bị sẵn sàng cho bước kế tiếp trong bảng hướng dẫn của bác sĩ nếu cần thiết.

Nếu bạn nghĩ thuốc đang dùng không hiệu quả, hãy thông báo cho bác sĩ biết ngay lập tức.

Tại bệnh viện

Nếu bạn đang ở phòng cấp cứu, có thể bạn sẽ được bắt đầu điều trị ngay trong lúc các bác sĩ đang đánh giá bệnh.

  • Bạn có thể sẽ được cho thở oxy qua mặt nạ hoặc qua một ống gắn vào mũi.
  • Bạn có thể được cho thuốc đồng vận beta dạng phung qua mặt nạ hoặc qua máy phun khí dung, có thể có hoặc không có kèm theo kháng cholinergic.
  • Một phương pháp khác để cho bệnh nhân dùng thuốc đồng vận beta là dùng bình xịt có định liều (MDI: metered dose inhaler). MDI cung cấp một liều cơ bản của thuốc trong mỗi nhát xịt.
  • Nếu bạn đã được dùng thuốc steroid, hoặc mới ngừng thuốc steroid gần đây, hoặc cơn hen quá nặng, có thể bạn sẽ phải dùng đến steroid đường tĩnh mạch.
  • Nếu bạn đang dùng methylxanthine, chẳng hạn như theophylline hoặc aminophylline, nên kiểm tra nồng độ thuốc có trong máu và nên được cho qua đường tĩnh mạch.
  • Những người có đáp ứng kém với thuốc đồng vận beta đường phung có thể sẽ được cho thuốc dùng qua đường tĩnh mạch chẳng hạn như terbutaline hoặc epinephrine.
  • Bạn sẽ phải được theo dõi trong vòng ít nhất 7 giờ khi các xét nghiệm đã hoàn tất và có kết quả. Bạn sẽ được theo dõi các dấu hiệu tiến triển hoặc nặng hơn của bệnh.
  • Nếu đáp ứng tốt với điều trị, có thể bạn sẽ được xuất viện. Nên cảnh giác đề phòng các triệu chứng có thể quay lại trong vòng 7 giờ kế tiếp. Nếu các triệu chứng quay lại hoặc trở nặng hơn, hãy quay lại phòng cấp cứu ngay lập tức.
  • Đáp ứng của bạn với điều trị sẽ được theo dõi qua lưu lượng đỉnh.

Trong một số trường hợp, bạn có thể sẽ bị giữ lại bệnh viện để được theo dõi cẩn thận và điều trị để tình trạng không trở nên nặng hơn. Những tình huống cần phải nhập viện bao gồm:

  • Cơn hen rất nặng hoặc không đáp ứng tốt với điều trị.
  • Chức năng phổi kém trên phế dung ký.
  • Tăng nồng độ CO2 và giảm nồng độ Oxy trong máu.
  • Có tiền sử phải nhập viện hoặc phải dùng máy giúp thở trong cơn hen
  • Những bệnh nặng khác có thể gây nguy hiểm cho sự hồi phục của bạn
  • Những bệnh nặng về phổi hoặc tổn thương phổi, như viêm phổi hoặc tràn khí màng phổi (xẹp phổi).

Nếu bạn được chẩn đoán là hen lần đầu tiên, có thể bạn sẽ được bắt đầu chế độ điều trị và theo dõi. Bạn sẽ được cho 2 loại thuốc:

  • Thuốc dùng để kiểm soát: dùng để kiểm soát trong thời gian dài bệnh hen kéo dài, giúp làm giảm tình trạng viêm ở phổi, là nguyên nhân đứng sau gây ra những cơn hen. Bạn phải dùng những loại thuốc này hằng ngày cho dù là có triệu chứng hay không.
  • Thuốc dùng để cắt cơn: dùng để kiểm soát trong thời gian ngắn các cơn hen. Chỉ được dùng khi đang có triệu chứng hoặc có vẻ nhưng sắp lên cơn hen, chẳng hạn như khi bạn đang bị nhiễm trùng đường hô hấp.

Kế hoạch điều trị cũng bao gồm những phần sau:

  • Nhận biết được những tác nhân gây dị ứng và tránh xa chúng hết mức có thể.
  • Tái khám thường xuyên.
  • Sử dụng lưu lượng đỉnh

Ở những lần tái khám, bác sĩ sẽ xem xét lại tình trạng của bạn

  • Bác sĩ sẽ hỏi bạn về tần số và độ nặng của cơn hen, sử dụng thuốc điều trị, và giá trị lưu lượng đỉnh.
  • Cũng có thể bạn sẽ được kiểm tra chức năng phổi để xem mức độ đáp ứng của phổi đối với điều trị.
  • Đây cũng là thời điểm tốt nhất để thông báo về những tác dụng phụ của thuốc và những vấn đề mà bạn gặp phải đối với việc điều trị.

Bạn và bác sĩ phải cùng nhau xây dựng kế hoạch để đối phó với sự xuất hiện của các cơn hen. Bảng kế hoạch sẽ bao gồm những chi tiết sau:

  • Cách dùng thuốc kiểm soát
  • Cách dùng thuốc điều trị trong trường hợp có cơn hen
  • Nên làm gì nếu thuốc điều trị không có tác dụng ngay lập tức.
  • Khi nào cần gọi bác sĩ
  • Khi nào cần đến trực tiếp phòng cấp cứu.

Các loại thuốc

Những loại thuốc kiểm soát giúp làm hạn chế quá trình viêm có thể dẫn đến cơn hen cấp.

  • Thuốc đồng vận beta tác dụng kéo dài: loại thuốc này có tính chất hóa học tương tự như adrenaline, một loại hormon được sản xuất bởi tuyến thượng thận. Thuốc đồng vận beta tác dụng kéo dài dạng xịt giúp giữ thông đường thở trong vòng 12 giờ hoặc hơn. Nó làm giãn các cơ của đường thở, giãn đường thở và giảm sức đề kháng của luồng khí thở ra, giúp thở dễ hơn. Chúng cũng giúp giảm viêm, nhưng không có tác dụng trên nguyên nhân thật sự của cơn hen. Tác dụng phụ của loại thuốc này là nhịp tim nhanh và run. Một số loại thuốc thuộc loại này là Salmeterol (Serevent) và formoterol (Foradil).
  • Corticoid dạng hít là loại thuốc chính trong nhóm này. Chúng có tác dụng cục bộ tập trung trên đường thở, với rất ít phản ứng phụ xảy ra ở ngoài phổi. Một số loại thuốc thuộc loại này là: Beclomethasone (Vancenase, Beclovent) và triamcinolone (Nasacort, Atolone).
  • Ức chế leukotrien. Leukotrien là một chất hóa học mạnh giúp tăng phản ứng viêm xuất hiện trong cơn hen cấp. Bằng các ức chế tác dụng của nó, thuốc sẽ làm giảm viêm. Thuốc ức chế leukotrien được xem là phòng tuyến thứ 2 chống lại hen và thường được dùng nếu hen không quá nặng đến mức cần phải cùng corticoids đường uống. Một số loại thuốc ức chế leukotrien bao gồm: Zileuton (Zyflo), zafirlukast (Accolate), và montelukast (Singulair).
  • Methylxanthine. Là nhóm thuốc có tính chất hóa học tương tự như như caffein. Methylxanthine là thuốc dãn phế quản tác dụng kéo dài. Đã từng có thời gian methylxanthine được dùng phổ biến để điều trị hen. Ngày nay, vì những tác dụng phụ tương tự như caffein biểu hiện một cách rõ rệt nên chúng ít được dùng hơn. Một số loại methylxanthine bao gồm Theophylline và aminophylline.
  • Natri Cromolyn là một loại thuốc khác có thể dùng để phòng ngừa sự phóng thích những chất hóa học gây ra quá trình viêm có liên quan đến hen. Loại thuốc này đặc biệt hữu ích cho những người lên cơn hen do tiếp xúc với một số chất gây dị ứng. Khi được sử dụng thường xuyên trước khi tiếp xúc với các dị ứng nguyên, Natri Cromolyn có thể ngăn ngừa tiến triển thành cơn hen. Tuy nhiên, không dùng loại thuốc này nếu như cơn hen đã khởi phát.

Những loại thuốc dùng để cắt cơn hen. Dùng khi cơn hen đã bắt đầu khởi phát. Không được dùng để thay thế những loại thuốc kiểm soát. Không được ngừng những loại thuốc dùng kiểm soát trong suốt đợt hen cấp.

  • Thuốc đồng vận beta tác dụng ngắn là loại thuốc được dùng phổ biến nhất trong nhóm này. Thuốc đồng vận beta tác dụng ngắn dạng xịt cho tác dụng rất nhanh chóng, trong vòng vài phút, giúp khai thông đường thở và tác dụng thường kéo dài trong 4 giờ. Albuterol (Proventil, Ventolin) thường được dùng nhiều nhất.
  • Thuốc kháng cholinergic: thuốc kháng cholinergic dạng xịt giúp mở thông đường thở, tương tự với tác dụng của thuốc đồng vận beta. Thuốc kháng cholinergic dạng xịt cho tác dụng hơi chậm hơn đồng vận beta nhưng tác dụng lại kéo dài hơn, thường được dùng chung với đồng vận beta để cho hiệu quả cao hơn là sử dụng một mình. Ipratropium bromide (Atrovent) là một loại thuốc kháng cholinergic hiện đang được sử dụng.

NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Tuân thủ điều trị

Nếu đang được điều trị tại phòng cấp cứu, bạn sẽ được xuất viện nếu như đáp ứng tốt với điều trị.

  • Bạn sẽ được yêu cầu đến tái khám tại phòng khám của bác sĩ chuyên khoa vào ngày hôm sau hoặc sau 2 ngày nữa.
  • Nếu triệu chứng quay trở lại, hoặc bạn bắt đầu cảm thấy tệ hơn, bạn nên liên hệ ngay với bác sĩ hoặc quay trở lại phòng cấp cứu.

Hen là một loại bệnh kéo dài nhưng có thể kiểm soát được. Sự tham gia của bạn trong quá trình điều trị mang tính chất rất quan trọng

  • Uống trực tiếp những thuốc được kê toa, cả những loại thuốc dùng để kiểm soát cũng như những loại thuốc dùng để cắt cơn.
  • Đến tái khám định kỳ theo lịch
  • Tránh những tác nhân gây dị ứng.
  • Bỏ hút thuốc
  • Bằng cách tuân thủ những bước trên, bạn có thể hạn chế được tần số và độ nặng của cơn.

Phòng ngừa

Bạn cần phải biết cách phòng ngừa và hạn chế sự xuất hiện của cơn trong tương lai

  • Nếu cơn hen xảy ra do những tác nhân gây dị ứng, nên tránh chúng hết mức có thể.
  • Tiếp tục sử dụng thuốc sau khi ra viện. Đây là điều tối quan trọng. Mặc dùng những triệu chứng của cơn hen cấp có thể đã hết sau khi được điều trị đúng cách nhưng bệnh hen thì không bao giờ khỏi được.

Tiên lượng

Hầu hết những bệnh nhân hen có thể kiểm soát được tình trạng của mình nếu hợp tác tốt với bác sĩ và tuân thủ chế độ điều trị một cách cẩn thận.

Những bệnh nhân không đến khám hoặc không tuân thủ đúng điều trị thường sẽ bị nặng hơn và bị suy giảm các chức năng bình thường của mình.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Sunday, June 27, 2010

Tin Vui Cho Người Viêm Mũi - Viêm Xoang Dị Ứng

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Tin_Vui_Cho_Nguoi_Viem_Mui_Viem_Xoang_Di_Ung_518571741.jpg&size=article_medium
Đô thị hoá đã gây ô nhiễm môi trường sống. Đồng thời sự tiếp xúc thường xuyên với vi khuẩn, hương liệu, hoá chất độc, phấn hoa, bụi không khí, khói thuốc… tạo sự kích thích cho hàng rào niêm mạc mũi xoang và là những nguyên nhân dẫn đến gia tăng bệnh viêm xoang, viêm mũi dị ứng.

Viêm mũi dị ứng là bệnh dị ứng toàn thân có biểu hiện tại chỗ thường bằng các triệu chứng:


* Hắt hơi liên tục nhiều lần không dứt đẫn đến đỏ mũi, viêm tắc, chảy nước mũi, mệt mỏi, khó chịu, đau cơ bụng, ngực,..
* Sổ mũi, nghẹt mũi, ứ đọng dịch đờm nhày trong xoang mũi, xoang trán...
* Ngứa mũi, khô mũi, cảm giác khó chịu ở mũi,...

Hậu quả người bệnh luôn khó chịu, mệt mỏi, đôi khi mất tự tin nơi công cộng, giảm chất lượng cuộc sống. Đó không chỉ là bệnh riêng của các tổ chức cơ quan mũi mà còn là hiện tượng dị ứng toàn thân biểu hiện tại mũi. Cơ chế phản ứng dị ứng ở niêm mạc mũi là cơ chế quá mẫn cảm nhanh.

Nguyên nhân:


* Khí hậu: Thay đổi thời tiết, biến đổi khí hậu, chuyển mùa, bão từ,…
* Thói quen sinh hoạt: uống rượu bia nhiều, giữ ấm cơ thể không hợp lý,
* Dị nguyên đường thở: phấn hoa, bụi, nấm mốc, bông vải sợi, lông gia súc, gia cầm...
* Dị nguyên thức ăn: Một số quả như dâu, dứa..., loại khác như tôm, cua, cá
* Dị nguyên là các loại thuốc chữa bệnh đặc biệt là kháng sinh, aspirine, quinine...
* Dị nguyên là vi khuẩn: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli,...

Đây là bệnh khá phổ biến ở khắp mọi tầng lớp nhân dân, ở mọi lứa tuổi và chiếm gần 30% dân số, trong đó chỉ 1/3 bệnh nhân trong số đó điều trị nội trú. Bệnh khó chữa vì một phần nguyên nhân phụ thuộc cơ địa mỗi người. Cho nên không có nguyên tắc điều trị cố định, mỗi bệnh nhân cần có cách điều trị riêng.

Những tiến bộ của khoa học gần đây đã giúp cho việc chẩn đoán điều trị viêm xoang, viêm mũi dị ứng được thuận lợi hơn. Đối với Viêm xoang mãn tính, việc điều trị đã tương đối khó khăn và phức tạp vì ở giai đoạn này thuốc chỉ là phương tiện thứ yếu sau sự can thiệp của ngoại khoa (như chọc dò, phẫu thuật, nạo, dẫn lưu...). Việc điều trị kéo dài ảnh hưởng đến sức khoẻ, tiền bạc và tâm lý của người bệnh. Vì vậy xu hướng dùng thuốc Y học cổ truyền như là một phương pháp điều trị đã được áp dụng phổ biến.

Hiện có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh viêm mũi dị ứng nhưng phần lớn vẫn dựa trên liệu pháp tại chỗ (giải quyết phù nề, sung huyết, xuất tiết, nhiễm trùng), liệu pháp toàn thân (Kháng histamine, kháng sinh hoặc corticoide) hoặc giải mẫn cảm đặc hiệu (Phương pháp điều trị cơ bản). Phương pháp điều trị cơ bản cũng khó thực hiện vì để thực hiện liệu pháp này cần rất nhiều những xét nghiệm sinh hoá và các nghiên cứu tốn kém khác. Trong khi đó liệu pháp toàn thân là phương pháp điều trị được các bác sĩ tin dùng và dễ kiểm soát bệnh nhân. Tuy nhiên liệu pháp tại chỗ là cách điều trị nhanh nhất, an toàn nhất và dễ sử dụng nhất. Vì vậy liệu pháp tại chỗ thường là biện pháp lựa chọn đầu tiên trong chỉ định cho điều trị bệnh viêm xoang, viêm mũi dị ứng.

Tuy nhiên, lý tưởng nhất trong điều trị là làm cho mỗi bệnh nhân mất đi phản ứng quá mẫn khi tiếp xúc với dị nguyên.

Vài nét về Nghệ vàng và ứng dụng Nghệ vàng trong điều trị viêm xoang, viêm mũi dị ứng:

Nghệ vàng có tên khoa học là Curcuma longa L. họ gừng (Zingiberaceae).

* Thành phần hoá học của nghệ ấn độ: Nước 13,1%; Proteine 6,3%; Chất béo 5,1%; Chất vô cơ 3,5%; sợi 2,6%; Carbonhydrate 69,4% và Caroten
* Ở Việt nam: Đã xác định trong củ nghệ có hỗn hợp chất màu 3,5-4% và đã phân lập được Curcumine tinh khiết với hàm lượng 1,5-2%
* Các chất màu phenolic trong củ nghệ chủ yếu là các dẫn chất của Diarylheptan, 3 chất chủ yếu là Curcumine (bisferuloyl- methan) (1) bis (4-hydroxy- cinnamoyl)- methan (2) và 4-hydroxycinnamoyl feruloyl methan (3)

Curcumine là một hỗn hợp 3 chất:

* Curcumine chính thức (gọi là Curcumine I) chiếm tỷ lệ 60% là Biferuloylmethan (1), Curcumine II là monodemethoxy curcumine chiếm 24% (4) và Curcumine III là bidesmetory curcumine chiếm 14% (5). Ngoài ra còn có dihydrocurcumine (6)

Các thành phần chủ yếu trong tinh dầu nghệ được xác định là những sesquiterpene cetone artumerone (7), alpha turmerone (8), beta turmerone (9) và curlone (10). Nhiều hợp chất terpene khác cũng được xác định có trong tinh dầu nghệ là alpha và beta pinene, camphene, limonene, terpinene, caryophyllene, linalool, borneol, isoborneol, camphor, eugenol, cineol curdion, curzerenon và curcumen (11, 12, 13).

Tác dụng dược lý:

* Nghệ có hoạt tính chống viêm cấp tính và mãn tính tương tự như Hydrocortisone acetate hoặc Indomethacine.
* Nghệ có hoạt tính chống loét dạ dày và loạn tiêu hoá. Curcumine dự phòng và cải thiện những thương tổn gây thực nghiệm ở dạ dày do kích thích sản sinh chất nhày.
* Curcumine ức chế sự tạo khí in vitro và in vivo.
* Tác dụng kháng khuẩn của một số thành phần hoá học của nghệ cũng đã được chứng minh.
* Kích thích tái tạo các tổ chức bị tổn thương và liền sẹo. Nhưng hiện tượng kích thích, tái tạo tăng sinh các tế bào tổ chức liên kết xuất hiện chậm

Xuất phát từ những nhận định trên và dựa trên quan điểm chuẩn hoá, phát triển, nâng cao nền Y học cổ truyền nhằm kết hợp 2 nền Y học, công ty cổ phần Sao Thái Dương đã thành công trong đề tài nghiên cứu chế tạo sản phẩm Thuốc xịt mũi Thái Dương – liệu pháp viêm mũi – viêm xoang dị ứng mới nguồn gốc thảo dược.

Thuốc Xịt Mũi Thái Dương

Liệu pháp viêm mũi dị ứng - viêm xoang nguồn gốc thảo dược


Công thức điều chế cho 01 lọ 20ml :

* Nghệ tươi...................2,0g
* Camphor.................20mg
* Menthol ..................20mg
* Tá dược vừa đủ........20ml

Ưu điểm của sản phẩm :

* Hiệu quả nhanh với cả những người mắc bệnh mạn tính lâu năm, cải thiện rõ chất lượng sống cho bệnh nhân Viêm mũi – viêm xoang do dị ứng.
* Hiệu quả kéo dài, hạn chế tái phát
* Sản phẩm được bào chế từ những thành phần quen thuộc, khả năng dung nạp thuốc tốt, an toàn, có thể sử dụng thường xuyên và lâu dài như chế phẩm vệ sinh.
* Sản phẩm được bào chế dưới dạng khí dung mang tính hiện đại, liều dùng ít, dễ sử dụng, dễ hấp thu, dễ bảo quản.

Lưu ý khi sử dụng sản phẩm :

1. Mới xịt thuốc vào niêm mạc, có cảm giác hơi nóng nhẹ, sau 30 giây - 1 phút, cảm giác này sẽ hết.
2. Do sản phẩm có chứa Menthol, nên không dùng cho trẻ em dưới 5 tuổi.
3. Sản phẩm không hiệu quả trên những bệnh nhân:

* Viêm mũi, viêm xoang có kèm bội nhiễm nặng do: vi khuẩn, nấm, virus,... (Điều trị phải phối hợp với kháng sinh đặc hiệu).
* Những bệnh nhân bị tăng sinh, phì đại niêm mạc, nghẹt mũi kinh niên do lệ thuộc corticoid, xylomethazolin dài ngày (điều trị phải phối hợp ngoại khoa).

COPD - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

COPD - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hay COPD, là tình trạng tắc nghẽn được dẫn khí lâu ngày kèm với viêm phế quản mạn, khí phế thủng, hay cả hai. Tình trạng tắc nghẽn này tăng dần theo thời gian.

Viêm phế quản mạn tính được định nghĩa là tình trạng ho kéo dài không gây ra bởi những nguyên nhân khác và có đàm từ 3 tháng trở lên mỗi năm trong vòng 2 năm liên tiếp.

Ở bệnh viêm phế quản mạn tính, các tuyến tiết nhầy ở phổi trở nên lớn hơn. Đường dẫn khí bị viêm và thành phế quản dày lên. Những thay đổi trên và sự biến mất của các phế nang gắn với chúng làm giới hạn thông khí do các thành ống dẫn khí bị méo mó và lòng ống dẫn khí bị hẹp lại.

Khí phế thủng là tình trạng tăng kích thước vĩnh viễn một cách bất thường của các túi khí (phế nang) nằm ở cuối đường dẫn khí của phổi. Khí phế thủng cũng phá hủy thành của các phế nang.

Có 3 dạng khí phế thủng: khí phế thủng trung tâm, khí phế thủng toàn thể và khí phế thủng ngoại biên.

Tại Hoa Kỳ, có khoảng 14.2 triệu người được chẩn đoán là COPD, 12.5 triệu người bị viêm phế quản mạn tính, và 1.7 triệu người bị khí phế thủng. Người ta ước lượng rằng cũng có chừng đó người tại Hoa Kỳ bị COPD nhưng chưa được phát hiện ra. Số người bị COPD đã gia tăng 41.5% tính từ năm 1982.

  • Gần 8 - 17% nam giới Mỹ và 10-19% phụ nữ Mỹ bị tắc nghẽn đường dẫn khí mạn tính. Sự tắc nghẽn này làm giảm dòng khí lưu thông qua phổi khi thở ra. Trong suốt 1 thập kỷ trước, số phụ nữ bị COPD đã tăng khoảng 30%.
  • Theo một nghiên cứu vào năm 1985, tỷ lệ tử vong do COPD ở những bệnh nhân tuổi từ 55-84 vào khoảng 200/100.000 người đối với nam và 80/100.000 người đối với nữ tại Hoa Kỳ. Mặc dù nam giới có tỷ lệ tử vong cao hơn nhưng tỷ lệ tử vong ở nữ giới cũng đang gia tăng.

Trên thế giới, do có hơn 1.2 tỷ người tiếp xúc với khói thuốc nên số người bị COPD cũng khá cao.

  • Vào năm 1990, tỷ lệ mắc bệnh COPD trên thể giới là 9,4/1.000 ở nam và 7,3/1.000 ở nữ.
  • Một nghiên cứu ở Tây Ban Nha cho tất có khoảng 9.1% người ở độ tuổi từ 40-69 bị COPD. Trong số đó có 78% là nam giới.
  • Tỷ lệ tử vong do COPD thay đổi tùy theo nước. Chẳng hạn như có 400/100.000 trường hợp tử vong ở nam giới độ tuổi 65-74 tại Romania, trong khi đó tỷ lệ này ở Nhật Bản là dưới 100/100.000 người.

NGUYÊN NHÂN

Hút thuốc hoặc tiếp xúc với khói thuốc

Hút thuốc hoặc tiếp xúc với khói thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây COPD. COPD xảy ra ở khoảng 15% người nghiện thuốc và việc sử dụng thuốc lá chiếm 90% nguy cơ mắc bệnh này.

Hút thuốc lá thụ động hoặc tiếp xúc với khói thuốc cũng làm gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dẫn đến giảm chức năng của phổi.

Những người hút thuốc là có thể tích thở ra gắng sức (FEV - forced expiratory volume) giảm rất nhanh. FEV là thể tích không khí tối đa mà người đó có thể thở ra trong vòng một khoảng thởi gian quy định ngay sau khi hít vào hết mức. Con số nhỏ phía dưới chỉ khoảng thời gian quy định tính bằng giây. Chẳng hạn như FEV1 là thể tích không khí tối đa có thể thở ra trong vòng 1 giây. Giảm FEV làm cho người bệnh thở hơi ngắn và khó thở.

Ô nhiễm không khí

Người ta vẫn chưa xác định được chắc chắn việc ô nhiễm không khí có gây COPD hay không. Tuy nhiên, nếu có thì hậu quả của nó cũng nhỏ so với thuốc lá.

Tăng nhạy cảm đường dẫn khí

Một số bệnh nhân COPD bị tăng nhạy cảm đường dẫn khí, là tình trạng đường dẫn khí phản ứng quá mức với những chất kích thích từ không khí, chẳng hạn như khói thuốc lá và chất ô nhiễm.

Vai trò làm yếu tố nguy cơ của chứng bệnh này đối với COPD ở những người hút thuốc vẫn chưa được chứng mình rõ ràng. Tuy nhiên, theo một giả thiết, bệnh nhân tăng nhạy cảm đường dẫn khí và có hút thuốc sẽ tăng nguy cơ bị COPD và tăng tỷ lệ suy giảm chức năng phổi.

Thiếu men Alpha1-antitrypsin

Men alpha 1-antitrypsin là một loại protein của cơ thể được gan sản xuất để giúp bảo vệ phổi khỏi bị tổn thương. Thiếu men alpha 1- antitrypsin là khi gan không sản xuất đủ loại protein này.

Thiếu men alpha 1 -antitrypsin có tính chất di truyền, và nó là yếu tố nguy cơ di truyền duy nhất của COPD được biết đến. Nó chiếm khoảng dưới 1% số trường hợp bị COPD ở Hoa Kỳ. Thiếu men alpha 1 -antitrypsin nặng có thể dẫn đến khí phế thủng ở những người trẻ tuổi, và ở những người không hút thuốc, độ tuổi khởi phát trung bình của khí phế thủng là 53 tuổi, đối với những người hút thuốc là 40 tuổi.


TRIỆU CHỨNG

Hầu hết những người bị COPD hút thuốc ít nhất 10 - 20 điếu mỗi ngày trong 20 năm hoặc hơn trước khi thấy triệu chứng. Do đó, thường thì COPD không được chẩn đoán cho đến khoảng 40 - 49 tuổi.

Những dấu hiệu và triệu chứng thường gặp của COPD bao gồm:

  • Ho dai dẳng hoặc cấp tính.
  • Khó thở hoặc thở hơi ngắn là triệu chứng có ý nghĩa nhất, nhưng nó thường không xuất hiện cho đến khoảng 50-59 tuổi.
  • Thở khò khè (có tiếng rít trong khi thở), đặc biệt là khi gắng sức hoặc lúc triệu chứng trở nặng.

Những triệu chứng sau có thể xảy ra khi tình trạng bệnh nhân nặng hơn:

  • Khoảng thời gian giữa các đợt khó thở ngắn hơn.
  • Tím tái hoặc suy tim phải có thể xảy ra.
  • Chán ăn và sụt cân đôi khi có thể xảy ra và là dấu hiệu tiên lượng nặng.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ (ATS - American Thoracic Society) đề ra 3 giai đoạn nặng của COPD dựa theo chức năng phổi:

  • Giai đoạn I: FEV1 bằng hoặc lớn hơn 50% giá trị dự đoán.
  • Giai đoạn II: FEV1 từ 35 - 49% giá trị dự đoán.
  • Giai đoạn III: FEV1 dưới 35% giá trị dự đoán.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH

Bạn nên đến gặp bác sĩ nếu có những triệu chứng của COPD, đặc biệt là khi bạn thấy mình thở trở nên khó khăn.


KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Bác sĩ sẽ thực hiện nhiều phương pháp khác nhau để xác định xem bạn có bị COPD hay không cũng như cách điều trị tốt nhất dành cho bạn.

  • Bạn sẽ được hỏi về triệu chứng của mình, bạn cũng sẽ được hỏi xem đã từng hút thuốc hay không, hiện nay có hút không hoặc có đang tiếp xúc với khói thuốc hay không khí ô nhiễm không.
  • Sau đó bạn sẽ được khám, tuy rằng việc khám bệnh thường không đủ nhạy cảm để phát hiện ra COPD mức độ từ nhẹ đến trung bình nhưng đủ khả năng để phát hiện ra COPD mức độ nặng. Bệnh nhân bị COPD nặng sẽ thở nhanh, khó thở khi thực hiện những hành động đơn giản.
  • Một mẫu đàm của bạn sẽ được lấy và gửi đến phòng xét nghiệm để phân tích.
  • Bạn có thể sẽ được chụp X-quang ngực hay CT. CT có thể sẽ cho những hình ảnh chi tiết hơn X-quang. Và nó rất hữu ích trong việc phát hiện ra khí phế thủng.
  • Bạn cũng có thể được thực hiện test đánh giá chức năng hô hấp do nó có thể phát hiện và tiếp cận được những bệnh phổi nặng. Test này cũng có ích trong việc theo dõi diễn tiến của bệnh phổi. Một dụng cụ được gọi là phế dung ký sẽ được dùng để đánh giá chức năng hô hấp giúp khảo sát chức năng phổi và đo lượng không khí bạn có thể hít vào và lượng không khí cùng với tốc độ mà bạn có thể thở ra.
  • Bạn cũng có thể được thử khí máu động mạch. Xét nghiệm này sẽ đo lường khả năng chuyển oxy vào máu và lấy CO2 ra ngoài của phổi.
  • Bạn cũng có thể sẽ được gắn vào ngón tay một thiết bị đo phần trăm oxy bão hòa trong máu.

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu điều trị đối với COPD là cải thiện chất lượng sống bằng cách phòng ngừa các triệu chứng và cơn nặng của bệnh, do đó bảo toàn chức năng tối ưu của phổi.

Nếu bị chẩn đoán là COPD, bạn nên tìm hiểu kỹ về bệnh của mình và tham gia tích cực vào chương trình điều trị.

Tại nhà

Ngừng hút thuốc là việc quan trọng nhất bạn có thể làm để cải thiện tình hình. Hầu hết những bệnh nhân bị COPD đang hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc trước đây. Kế hoạch ngừng hút thuốc là một phần cơ bản trong toàn bộ kế hoạch điều trị. Tuy nhiên, tỷ lệ bỏ thuốc thành công vẫn thấp do những nguyên nhân sau:

  • Sức gây nghiện của nicotine.
  • Đáp ứng của cơ thể với những tác nhân kích thích liên quan đến khói thuốc.
  • Vấn đề tâm lý, bao gồm stress, trình độ văn hóa thấp, và những chiến dịch phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp thuốc lá.

Quá trình chuyển từ hút thuốc sang không hút thuốc gồm 5 giai đoạn:

  • Trước khi suy tính
  • Suy tính
  • Chuẩn bị
  • Hành động
  • Duy trì

Tiến trình bỏ thuốc có thể có sự can thiệp của nhiều phía, bao gồm:

  • Bản thân
  • Nhóm
  • Bác sĩ
  • Nơi làm việc
  • Các chương trình cộng đồng.

Một chương trình bỏ thuốc thành công thường dùng các nguồn trợ lực sau:

  • Giáo dục sức khỏe
  • Theo dõi
  • Phòng tái phát
  • Những lời khuyên về thay đổi lối sống
  • Chương trình hỗ trợ của xã hội
  • Điều trị phụ thêm (chẳng hạn như uống thuốc)

Tại bệnh viện

Ba mục tiêu chính của việc điều trị COPD là:

  • Giảm giới hạn thông khí
  • Phòng ngừa và điều trị những biến chứng (như giảm oxy máu, nhiễm trùng).
  • Giảm triệu chứng hô hấp và cải thiện chất lượng sống.

Những cơn cấp của COPD là một trong những nguyên nhân chính khiến bệnh nhân phải nhập viện tại Hoa Kỳ.

Bạn có thể phải cần nhập viện nếu bị suy chức năng hô hấp nặng, nếu bệnh tiến triển, hoặc nếu bạn có một bệnh về hô hấp nghiêm trọng khác (như viêm phổi, viêm phế quản cấp). Mục tiêu nhập viện là để điều trị triệu chứng và ngăn ngừa diễn tiến xấu hơn).

Có thể bạn sẽ phải vào phòng săn sóc tích cực (ICU - Intensive care unit) nếu cần phải thở máy xâm lấn hoặc không xâm lấn hoặc nếu có những triệu chứng sau:

  • Lú lẫn
  • Lơ mơ
  • Mỏi cơ hô hấp
  • Thiếu oxy máu nặng
  • Toan hô hấp (tình trạng tích trữ CO2 trong máu)

Thuốc

Các bác sĩ có thể cho rằng bạn cần phải dùng thuốc để giảm bớt các triệu chứng.

Cai thuốc lá bằng liệu pháp thay thế nicotine

Dùng thuốc có theo dõi chặt là phần bổ sung quan trọng trong kế hoạch cai thuốc.

Nicotine là một thành phần trong thuốc lá là tác nhân chính gây nghiện. Không sử dụng nicotine nữa sẽ gây cho bạn những tác dụng phụ khó chịu như: bứt rứt, kích thích, khó tập trung, tức giận, mệt mỏi, lơ mơ, trầm cảm, và dễ tỉnh giấc khi ngủ. Những hiện tượng này thường xảy ra vào vài tuần đầu sau khi bỏ thuốc.

Liệu pháp thay thế nicotine giảm những triệu chứng cai nghiện trên. Nếu bạn cần phải hút thuốc trong vòng 30 phút sau khi tỉnh dậy, có nhiều khả năng là bạn bị nghiện nặng và sẽ cảm thấy khá hơn khi dùng liệu pháp này.

Nicotine polacrilex là kẹo chewing gum. Có 2 loại là 2mg và 4mg. Nếu bạn hút 1 gói/ngày, bạn nên dùng loại 4mg. Nếu bạn hút ít hơn 1 gói/ngày, bạn nên dùng loại 2mg. Nên nhai mỗi giờ và cũng nên nhai mỗi khi cảm thấy muốn hút thuốc trong vòng 2 tuần đầu. Bạn có thể sẽ giảm dần lượng kẹo sau 3 tháng kế tiếp.

Miếng dán nicotine cũng có thể được sử dụng. Tác dụng phụ thường gặp nhất là da bị kích thích nhẹ ở vùng dán. Miếng dán này được bán dưới nhiều tên thương mại khác nhau như: Nicoderm, Nicotrol, và Habitrol. Mỗi loại được thiết kế để giảm nicotine sau 6 - 10 tuần.

Dùng thuốc chống trầm cảm bupropion (Zyban) cũng có hiệu quả. Nó là thuốc không chứa nicotine giúp bỏ thuốc. Bupropion cũng có hiệu quả đối với những người không có khả năng bỏ thuốc bằng liệu pháp nicotine thay thế.

Corticoid hít

Một số người bị COPD đáp ứng tốt với corticoid đường uống có thể duy trì trong thời gian dài với corticoid hít.

Việc sử dụng loại thuốc này rất phổ biến mặc dù bằng chứng về hiệu quả của nó đối với COPD cũng rất ít. Corticoid không làm chậm lại quá trình suy giảm chức năng phổi. Tuy nhiên, chúng làm giảm tần số xuất hiện cơn và cải thiện tính chất bệnh cùng với chất lượng sống ở một số bệnh nhân COPD.

Corticoid dạng hít có ít tác dụng phụ hơn dạng uống, nhưng chúng cho hiệu quả thấp hơn, ngay cả khi được sử dụng với liều cao.

Thuốc đồng vận Beta 2 - thuốc giãn phế quản

Thuốc giãn phế quản đồng vận beta 2 dạng hít có tác dụng làm giãn và thông đường thở. Chúng có tác dụng nhanh, thường là trong vài phút.

Thuốc đồng vận beta 2 được dùng chủ yếu để giảm triệu chứng của COPD. Đồng vận beta 2 dạng hít là cách điều trị lựa chọn cho cơn COPD cấp.

Có 2 loại đồng vận beta 2 tác dụng kéo dài (formoterol, salmeterol) được sử dụng. Chúng có thể có ích nếu như bạn thường dùng loại tác dụng ngắn hoặc bạn thấy xuất hiện triệu chứng vào ban đêm.

Thuốc ức chế đối giao cảm - giãn phế quản

Duy trì điều trị bằng thuốc kháng đối giao cảm dạng xịt (ipratropium bromide) có thể sẽ hiệu quả hơn đồng vận beta 2 đối với những bệnh nhân COPD, đặc biệt trong việc giảm thở hụt hơi.

Ipratropium bromide làm thông đường thở nhưng có ít tác dụng phụ.

Nó được cho dưới dạng bình xịt có định liều, khoảng 2 - 4 nhát, 4 lần mỗi ngày. Có thể cho thêm đồng vận beta 2 nếu cần thiết.

Mặc dù nó cho tác dụng chậm hơn đồng vận beta 2 dạng hít (khoảng 30 - 60 phút), nhưng tác dụng của nó lại kéo dài hơn. Do đó nó không thích hợp để dùng với mục đích khẩn cấp.

Những người bị cơn COPD cấp đáp ứng tốt với đồng vận beta 2 dạng hít và kháng đối giao cảm dạng xịt. Việc điều trị thường là bắt đầu với việc cho đồng vận beta 2 dạng hít qua máy xông. Cho thuốc dạng này cũng làm giảm tác dụng phụ. Ipratropium bromide dạng xịt cũng thường có thể được thêm vào.

Thuốc dãn phế quản tác dụng kéo dài

Methylxanthine, chẳng hạn như theophylline, là một nhóm thuốc có liên quan đến caffein. Chúng tác động trên bệnh COPD bằng cách làm thông đường thở. Ngoài ra, methylxanthine làm giảm viêm, cải thiện chức năng cơ hô hấp, kích thích trung tâm hô hấp của não.

Thêm theophyline vào nhóm thuốc dãn phế quản có thể có ích mặc dù đáp ứng với theophyline khác nhau tùy theo mỗi bệnh nhân. Tuy nhiên người ta ngày càng ít sử dụng chúng trong thập kỷ vừa qua do nguy cơ xảy ra những tác dụng phụ không mong muốn. Những tác dụng phụ bao gồm: bứt rứt, run giật, buồn ngủ, nôn ói, loạn nhịp tim và đột quỵ.

Corticoid dạng uống

Corticoid được dùng với những người không cải thiện sau khi đã dìmh các loại thuốc khác hoặc những người đang lên cơn cấp tính.

Corticoid dạng uống được dùng điều trị thành công ở những người bị cơn cấp tính. Chúng cải thiện triệu chứng và chức năng của phổi trong những trường hợp này. Corticoid dạng uống thường không được khuyến khích dùng trong thời gian dài do những phản ứng phụ của chúng.

Kháng sinh

Những bệnh nhân COPD thường hay bị nhiễm trùng đường hô hấp dưới, mục đích của kháng sinh không phải là để ngăn chặn vi trùng mà là điều trị những cơn cấp.

Điều trị bằng kháng sinh có lợi cho những người bị cơn cấp với ít nhất 2 trong số những triệu chứng sau (tiêu chuẩn Winnipeg): thở hụt hơi tăng nhiều, tăng sản xuất đàm, tăng xuất tiết đàm.

Loại thuốc được lựa chọn đầu tiên bao gồm amoxicillin, cefaclor, hoặc trimethoprim/sulfamethoxazole. Thứ hai là azithromycin, clarithromycin, và fluoroquinolone.

Thuốc loãng đàm

Thuốc làm loãng đàm không chỉ làm giảm độ đặc của đàm mà còn tăng độ thanh thải của nó nữa.

Oxy

COPD thường đi kèm với thiếu oxy máu.

Trong nhiều trường hợp, triệu chứng thiếu oxy máu không xuất hiện lúc bệnh nhân nghỉ ngơi mà là vào lúc họ gắng sức. Ngay cả khi những nghiên cứu xác định ích lợi lâu dài của việc thở oxy đơn độc đối với các hoạt động thể lực vẫn chưa được tiến hành thì việc cho thở oxy tại nhà vẫn thường được các bác sĩ khuyên dùng đối với những người bị giảm oxy máu khi gắng sức. Thở oxy khi gắng sức có thể giúp làm tăng áp lực động mạch phổi, giảm triệu chứng thở hụt hơi và tăng khả năng vận động.

Việc thở oxy đối với những bệnh nhân COPD cũng có thể cần thiết trong khi đi máy bay do áp suất trong cabin máy bay thấp. Bạn có thể chuẩn bị cho chuyến bay bằng cách thở oxy trước khi khởi hành.

Những bệnh nhân COPD bị thức dậy giữa chừng bởi những triệu chứng của nó cũng có thể cần phải thở oxy.

Thở oxy thường thì an toàn. Người ta đã nhận biết được độc tính của oxy liều cao, nhưng vẫn tìm thấy rất ít những tác hại lâu dài của thở oxy liều thấp. Do việc thở oxy lâu dài làm giảm tỷ lệ tử vong với những người bị COPD nặng, tăng khả năng sống còn và chất lượng sống đã lấn át những nguy cơ có thể xảy ra.

Mối nguy hiểm lớn nhất của liệu pháp này là cháy và nổ. Những bệnh nhân COPD, gia đình, và người chăm sóc không nên hút thuốc khi máy thở oxy đang được sử dụng. Tuy nhiên, xét trên tổng thể thì những tai nạn lớn thường hiếm gặp và có thể tránh nếu được huấn luyện kỹ càng.

Phẫu thuật

Trong vòng 50-75 năm gần đây, nhiều phương pháp phẫu thuật đã được thử để cải thiện triệu chứng và phục hồi chức năng của phổi ở những người bị khí phế thủng nhưng chỉ có mổ cắt bóng khí và có thể là phẫu thuật làm giảm thể tích phổi được chứng minh là có hiệu quả.

Mổ cắt bóng khí

Là phẫu thuật cắt những bóng khí lớn ở phổi do khí phế thủng nằm ở phần ngoại vi của phổi. Phẫu thuật này được xem là phẫu thuật tiêu chuẩn trong nhiều năm. Bóng khí ở những bệnh nhân bị khí phế thủng thường có kích thước thay đổi từ 1 - 4 cm đườn kính, tuy nhiên, bóng khí có thể chiếm hơn 33% nửa ngực.

Các bóng khí có thể chèn ép những nhu mô phổi gần kề, giảm lượng máu đến và giảm thông khí cho những mô khỏe mạnh. Loại bỏ những bóng khí này sẽ giúp phần phổi bị chèn ép nở ra và chức năng được cải thiện.

Phẫu thuật cắt phổi

Lần đầu tiên được thực hiện cách đây gần 40 năm.

Thông thường, phẫu thuật viên sẽ lấy đi 20-30% từ phần trên của mỗi phổi, là khu vực thường bị thương tổn nhiều nhất do khói thuốc. Người ta lý giải rằng việc lấy đi phần phổi bị bệnh sẽ làm tăng đường kính đường dẫn khí ở những phần phổi còn lại và do đó sẽ cải thiện chức năng phổi và thông khí, do đó, sẽ làm giảm triệu chứng.

Thủ thuật này có tỷ lệ tử vong từ 0 - 8% và một số biến chứng.

Tiêu chuẩn để xác định những ai nên phẫu thuật gần đây đã được công bố. Nói chung, tất cả những người nên phẫu thuật là những người có những triệu chứng của khí phế thủng nặng, phì đại đường thở và bóng khí do khí phế thủng một cách nhanh chóng, và bằng chứng của khí phế thủng trên HRCT.

Một nghiên cứu tiền cứu đa trung tâm lớn vừa mới được hoàn thành cho thất những bệnh nhân bị bệnh phổi ở thùy trên và dung nạp kém với vận động thể lực có thể được hưởng lợi từ phương pháp này.

Ghép phổi

Ghép phổi là cách điều trị tương đối mới đối với những bệnh nhân bị bệnh phổi nặng.

Những người bị COPD nằm trong nhóm lớn nhất những người được ghép. Thời gian ghép rất khó xác định, nhưng những người được lựa chọn để ghép là những người chỉ còn có thể sống được dưới 2 năm nữa do COPD nếu không được ghép.


NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Phòng ngừa

COPD không thể chữa được nhưng có thể phòng ngừa, để phòng COPD cần phải:

  • Không hút thuốc, nếu có hút thuốc thì hãy bỏ thuốc ngay.
  • Hạn chế tiếp xúc với khói thuốc bằng cách không cho phép hút thuốc trong nhà hoặc ngồi ở khu vực không hút thuốc khi đi ra ngoài. Bạn cũng nên tránh khói do củi cháy hoặc cho nấu ăn.
  • Hạn chế không khí ô nhiễm trong nhà.
  • Tránh bị nhiễm trùng hô hấp trong khi bị cảm cúm. Bạn cũng nên thường xuyên rửa tay do virus có thể di chuyển từ từ tay qua miệng do tiếp xúc.
  • Đấu tranh cho không khí trong lành để giảm bớt số người bị COPD do ô nhiễm môi trường.

Tiên lượng

Đối với những người bị COPD nhẹ, tiên lượng thường khả quan. Ở những trường hợp nặng hơn thì tiên lượng cũng xấu hơn. Đối với những người phải vào phòng săn sóc tích cực (ICU) do cơn cấp thì tỷ lệ tử vong là 24%. Tỷ lệ này tăng lên gấp đôi ở những người 65 tuổi hoặc lớn hơn. Tiên lượng tử vong do COPD dựa vào những điểm sau:

  • Tuổi tác
  • Tiếp tục hút thuốc
  • Tiếp tục giảm FEV1
  • Tắc nghẽn đường dẫn khí từ trung bình đến nặng
  • Đáp ứng kém với thuốc giãn phế quản
  • Thiếu oxy máu nặng
  • Tăng áp lực CO2 động mạch.
  • Tăng áp phổi (suy tim phải).
  • Suy chức năng toàn thể.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Saturday, June 26, 2010

Thảo Mộc Trị Bệnh Viêm Xoang

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Thao_Moc_Tri_Benh_Viem_Xoang_149181669.jpg&size=article_medium
Sử dụng thảo mộc trong điều trị viêm xoang cũng mang lại hiệu quả mà nhiều người chưa biết tới.

1. Cam, chanh

Nước ép chanh hoặc cam giúp chống lại các mầm bệnh và giảm đáng kể lượng nước nhầy trong mũi. Dùng nước cam chanh 2 - 4 lần mỗi ngày để mang lại hiệu quả tối ưu.

2. Vitamin C


Vitamin C có nhiều trong các loại rau như rau chân vịt, bông cải xanh và trà có tác dụng giúp thông mũi nên rất có ích với những người bị viêm xoang.

3. Tỏi

Trong tỏi có chứa allicin giúp chống lại các vi rút và vi khuẩn gây bệnh viêm nhiễm, ăn tỏi tươi hoặc cho vào trà hoặc canh đều rất tốt cho sức khỏe.

4. Quả đậu ván

Quả đậu ván có tác dụng ngừa chứng viêm xoang và tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể.

Nhãn khoa 2008

SÁCH ĐÀO TẠO BÁC SĨ ĐA KHOA



Tác giả: PGS.TS. Hoàng Thị Phúc {chủ biên}
Nguồn: Bộ Y tế
Chuyên ngành: Bác sĩ Đa khoa
Ký hiệu: 81 - 85
Ký hiệu phân loại: N67-Z73/BSĐK
Năm xuất bản - Nhà xuất bản: 08-yh







LỜI GIỚI THIỆU

Thực hiện một so điều của Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Y tế đa ban hành chương trình khung ĐÀO TẠO BÁC SĨ ĐA KHOA. Bộ Y tế tổ chức biên soạn tài liệu dạy – học các môn cơ sở và chuyên môn theo chương trình trên nhằm từng bước xây dựng bộ sách đạt chuẩn chuyên môn trong công tác đào tạo nhân lực y tế.

Sách Nhãn khoa được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục của Trường Đại học Y Hà Nội trên cơ sở chương trình khung đa được phê duyệt. Sách được PGS.TS. Hoàng Thị Phúc (chủ biên) và các tác giả PGS.TS. Phạm Thị Khánh Vân, BS CK TT. Nguyễn Ngọc Trung, TS. Nguyễn Đức Anh, TS. Phạm Thị Kim Thanh, ThS. Vũ Anh Tuấn, ThS. Nguyễn Duy Anh biên soạn theo phương châm: Kiến
thức cơ bản, hệ thong; nội dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn Việt Nam.

Sách Nhãn khoa đa được Hội đồng chuyên môn thẩm định sách và tài liệu dạy – học chuyên ngành ĐÀO TẠO BÁC SĨ ĐA KHOA của Bộ Y tế thẩm định năm 2007. Bộ Y tế quyết định ban hành tài liệu dạy – học đạt chuẩn chuyên môn của ngành trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian từ 3 đến 5 năm, sách phải được chỉnh lý, bổ sung và cập nhật.

Bộ Y tế chân thành cảm ơn các tác giả và Hội đồng chuyên môn thẩm định đa giúp hoàn thành cuon sách; Cảm ơn PGS. TS. Lê Minh Thông, PGS. TS. Lê Quang Hoành đa đọc và phản biện để cuon sách sớm hoàn thành kịp thời phục vụ cho công tác đào tạo nhân lực y tế.

Lần đầu xuất bản, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, các bạn sinh viên và các độc giả để lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn.

VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
theo ykhoaviet.bogspot.com


NHÃN KHOA 2008-BSĐK.PDF

DUNG LƯỢNG 6.8 MB

Friday, June 25, 2010

Món Ăn Cho Người Viêm Xoang

http://benhtaimuihong.daitudien.com/files.php?file=Mon_An_Cho_Nguoi_Viem_Xoang_889464393.jpg&size=article_medium
Viện Y Dược học Dân tộc, thành phố Hồ Chí Minh: Viêm xoang một bệnh lý thường gặp trong các phòng khám, nguyên nhân thường là do các cơ địa dị ứng, triệu chứng bệnh không có gì là nguy hiểm, nhưng gây chó chịu cho người bệnh và ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ. Một số vị thuốc trong các bài thuốc có tác dụng chữa viêm xoang

- Lá Dâu: có vị đắng, ngọt, tính hàn vào hai kinh Can-Phế, dùng chữa cảm sốt, đau đầu, ho, đàm, lao nhiệt.

- Hoa Cúc: có vị ngọt, tính ôn dùng chữa đau đầu, hoa mắt, ho cảm, cao huyết áp, viêm xoang. Người ta dùng Cúc hoa để ướp chè, hoặc nấu nưúơc uống để thanh nhiệt, giải đọc.

- Trần bì (vỏ quả quýt): vị cay, đắng, tính ôn, vào hai kinh Tỳ và Phế. Có tác dụng kiện tỳ, hoá đơn dùng để chữa ho, viêm xoang, ăn uống không tiêu, ăn không ngon, nôn mửa.

- Thục địa: là rễ của của Sinh địa được chế biến, một vị thuốc quý, có vị ngọt, đắng, tính hàn, có tác dụng bổ tinh tuỷ, sáng tai mắt, đen râu tóc, tốt cho người lao tâm, làm việc nhiều bằng trí óc, tinh suy, chữa cho những người suy nhược tâm thể, kinh nguyệt không đều, động thai.

- Đảng sâm: một vị thuốc bổ không kém Nhân sâm, gần 30 tác dụng chữa bệnh, tốt cho người gia, người bệnh mãn tính, bệnh lý xương khớp như viêm khớp, mỏi gối, viêm khớp dạng thấp, viêm xương.

- Ngưu tất: vị đắng, chua, tính bình, vào hai kinh can và thận, có tác dụng chống viêm, giảm cholesterol, chữa mụn nhọt, dùng tốt cho người viêm xoang.

- Ngọc trúc: vị ngọt, tính hàn vào hai kinh Phế và Vị, dùng trong trường hợp táo nhiệt, ho.

- Bách hợp: vị đắng tính hơi hàn vào hai kinh Tâm, Phế, có tác dụng chữa ho, viêm đường hô hấp, viêm khí quản, ho có đờm.

Canh gà lá dâu

Thành phần:


Lá dâu 12g

Trần bì 6g

Hoa Cúc 8g

Thục địa 12g

Gà giò 1 con

Gia vị

Cách chế biến:

Gà giò làm sạch lông, mổ bụng, bỏ bộ đồ lòng, cho nước vào, nấu cùng với các vị thuốc trên như nấu món canh thông thường, nêm gia vị cho hợp khẩu vị.

Công dụng:
Thích hợp cho người viêm đường hô hấp trên, viêm xoang, cảm sốt, ho nhiều đờm.

Chè mạch đông

Thành phần:


Ngọc trúc 16g

Bách hợp 16g

Mạch đông 10g

Nấm tuyết Đường

Cách chế biến:

Nấu các vị trên cho đến khi vừa sôi, cho đường vào vừa đủ ngọt, nấu thêm khoảng 5-10 phút là được.

Công dụng:

Thanh nhiệt, bổ phế, có tác dụng viêm phế quản, khí quản, viêm xoang, cảm sốt…

Canh các lóc ngũ vị

Thành phần:


Đảng sâm 12g

Quế 2g

Ngũ vị 6g

Thục địa 16g

Ngưu tất 8g

Cá Lóc 1 con

Cách chế biến:

Cá lóc đánh vẩy, bỏ mạng, nấu với các vị thuốc, nêm gia vị vào vừa đủ như nấu một món canh, cá chín tới là được.

Công dụng:

Tốt cho người đau đầu, viêm xoang, ho có đàm, số mũi, người khó chịu, bức rứt.

Khí phế thũng

Khí phế thũng là một bệnh tiến triển, lâu ngày và là nguyên nhân hàng đầu gây thở hụt hơi (hơi thở ngắn). Ở những bệnh nhân bị khí phế thũng, những nhu mô phổi cần thiết để giữ cho chức năng và hình dạng của phổi được bình thường bị phá hủy. Nó nằm trong một nhóm các bệnh có tên gọi chung là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease). Khí phế thũng được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn do sự phá hủy nhu mô phổi xung quanh những đường dẫn khí nhỏ, được gọi là các tiểu phế quản, làm cho chúng không thể giữ được hình dạng bình thường khi bệnh nhân thở ra.

Nhóm bệnh này là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 gây tử vong ở Hoa Kỳ. Không như bệnh tim mạch và những nguyên nhân gây tử vong khác, tỷ lệ tử vong do COPD đang có chiều hướng tăng lên.

Bệnh khí phế thũng thay đổi cấu trúc của phổi theo một số cách quan trọng.

  • Bình thường phổi rất xốp và đàn hồi. Khi hít vào, thành ngực nở ra, làm phổi cũng nở ra. Tương tự như khi một miếng xốp đang bị bóp chặt khi được thả ra sẽ hút nước vào bên trong nó, phổi cũng hút không khí vào bên trong nó khi thành ngực nở ra. Không khí đi vào qua khí quản, các phế quản (hai ống dẫn khí chính đi vào phổi phải và phổi trái). Hai ống này tiếp tục chia ra thành những ống nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa đến đơn vị nhỏ nhất được gọi là phế nang. Phế nang là cấu trúc nhỏ nhất trong phổi, nó là một túi khí được sắp xếp tương tự như một chùm nho. Phế nang nằm ở đầu tận của ống dẫn khí nhỏ nhất có tên là tiểu phế quản. Các phế nang và tiểu phế quản là những cấu trúc rất quan trọng của phổi giúp nó thực hiện tốt chức năng của mình. Đó cũng chính là những cấu trúc bị phá hủy trong bệnh khí phế thũng.
  • Miếng xốp hút nước được là do tất cả những lỗ nhỏ li ti bên trong nó nở ra cùng một lúc sau khi được vắt khô. Nếu những lỗ này lớn hơn, miếng xốp không thể hút nước nhiều được. Đó là do những lỗ lớn không thể tự nở lớn ra bằng với nhiều lỗ nhỏ hơn. Hãy tưởng tượng phổi cũng tương tự như vậy sẽ hiểu được dễ dàng hơn vì sao khí phế thũng lại gây suy giảm chức năng phổi. Phổi cần phải có tính đàn hồi để có thể dãn ra và co lại tốt. Cũng tương tự như miếng xốp, phổi cần rất nhiều phế nang (hàng trăm triệu) để hút đủ khí vào bên trong. Các phế nang càng ít và càng lớn hơn thì hiệu quả sẽ càng kém đi.

NGUYÊN NHÂN

Hút thuốc lá là nguyên nhân nguy hiểm nhất gây khí phế thũng và nó cũng là nguyên nhân có thể phòng ngừa được nhất. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu một loại enzyme có tên là alpha-1-antitrypsin, ô nhiễm không khí, phản ứng của đường thở, di truyền, là nam giới, và tuổi tác.

  • Tầm quan trọng của việc hút thuốc lá với vai trò là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng không thể được cường điệu hóa. Hút thuốc lá góp phần đẩy nhanh tiến trình bệnh qua 2 cách. Nó phá hủy nhu mô phổi, là nguyên nhân gây tắc nghẽn, và nó gây viêm và kích thích đường dẫn khí có thể làm cho bệnh nặng hơn.
    • Sự phá hủy nhu mô phổi có thể xảy ra theo nhiều cách. Đầu tiên, khói thuốc sẽ tác động trực tiếp lên các tế bào ở đường thở chịu trách nhiệm làm sạch chất nhầy và các chất xuất tiết khác ra khỏi đường thở. Hút thuốc là không thường xuyên sẽ chỉ ngăn chặn tạm thời hoạt động quét của các lông nhỏ li ti của các tế bào này (được gọi là lông chuyển) nằm trên lớp niêm mạc đường thở. Nếu tiếp tục hút sẽ dẫn đến rối loạn chức năng của các lông chuyển. Tiếp xúc với khói thuốc trong thời gian dài sẽ làm các lông chuyển này biến mất khỏi các tế bào bề mặt đường thở. Không được quét bởi các lông chuyển, các chất tiết nhầy không thể bị loại bỏ ra khỏi đường hô hấp dưới. Ngoài ra, khói thuốc còn làm cho dịch nhầy tiết ra nhiều hơn cùng lúc với hiện tượng đường hô hấp bị giảm khả năng làm sạch những chất tiết và kết quả là chất nhầy tích tụ lại tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển dẫn đến nhiễm trùng.
    • Những tế bào miễn dịch của phổi, vốn có chức năng phòng ngừa và chống lại nhiễm trùng, cũng bị ảnh hưởng bởi khói thuốc. Chúng không thể chống lại vi khuẩn một cách hiệu quả nữa, và chúng cũng không loại bỏ được những thành phần chứa trong thuốc lá ra khỏi phổi. Bằng những cách đó, khói thuốc lá tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng xuất hiện thường xuyên. Mặc dù những đợt nhiễm trùng này có thể sẽ không nghiêm trọng đến mức phải nhờ đến sự giúp đỡ của bác sĩ nhưng quá trình viêm gây ra bởi hệ miễn dịch để chống lại vi khuẩn và những thành phần của thuốc lá dẫn đến việc phóng thích những enzyme có tính chất phá hủy từ các tế bào miễn dịch.
    • Theo thời gian, những enzyme được phóng thích trong quá trình viêm kéo dài này làm mất những protein chịu trách nhiệm giữ cho phổi được đàn hồi. Ngoài ra, những mô nằm giữa để chia tách các phế nang riêng với nhau cũng bị phá hủy. Nhiều năm sau đó, nếu vẫn tiếp tục tiếp xúc với khói thuốc thì sự giảm đàn hồi của phổi cùng với sự phá hủy các phế nang sẽ làm chức năng phổi bị hủy hoại từ từ.
  • Alpha-1-antitrypsin là một chất chống lại một loại enzyme phá hủy bên trong phổi có tên là trypsin. Trypsin là một enzyme tiêu hóa, thường thấy trong các ống tiêu hóa được cơ thể sử dụng để tiêu hóa thức ăn. Chúng cũng được các tế bào miễn dịch tiết ra để chống lại vi khuẩn và những chất khác. Những người bị thiếu men alpha-1-antitrypsin sẽ không thể chống lại được tác dụng phá hủy của trypsin một khi nó bị tiết vào phổi. Sự phá hủy mô của trypsin cũng cho những tác động tương tự như sự phá hủy của khói thuốc. Nhu mô phổi sẽ bị phá hủy dần dần dẫn đến giảm khả năng thực hiện những chức năng bình thường của phổi.
  • Không khí ô nhiễm cũng có các tác động tương tự như khói thuốc lá. Chúng gây viêm đường hô hấp dẫn đến phá hủy nhu mô phổi.
  • Những người có họ hàng gần với bệnh nhân bị khí phế thũng cũng có khả năng bị bệnh này, đây được gọi là thể bệnh do di truyền, tuy nhiên vai trò của gen di truyền trong cơ chế phát sinh bệnh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ.
  • Phản ứng bất thường của đường dẫn khí, chẳng hạn như hen phế quản, cũng là yếu tố nguy cơ gây khí phế thũng.
  • Nam giới dễ bị khí phế thũng hơn nữ, tuy nhiên nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết đến, có thể là do sự khác nhau về hormon giữa nam và nữ.
  • Lớn tuổi cũng là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng. Chức năng phổi sẽ suy giảm theo tuổi. Do đó, có thể đây là lý do vì sao những người lớn tuổi, khi mà nhu mô phổi của họ bị phá hủy một lượng vừa đủ để có thể gây ra bệnh khí phế thũng.

TRIỆU CHỨNG

Thở hụt hơi (hơi thở ngắn) là triệu chứng thường gặp nhất của khí phế thũng. Những triệu chứng sau cũng có thể gặp là ho, có thể đôi khi là do dịch nhầy bị tiết ra, và thở khò khè. Bạn sẽ cũng có thể để ý đến khả năng vận động của mình giảm dần theo thời gian. Khí phế thũng thường phát triển từ từ. Bạn có thể sẽ không có những đợt thở hụt hơi cấp tính. Sự hư hỏng sẽ diễn ra từ từ và không làm cho bạn chú ý.

Một trong những triệu chứng đặc hiệu của khí phế thũng là thở chu môi. Bệnh nhân bị khí phể thũng sẽ phải cố gắng hết sức mình để thở ra hoàn toàn do đường dẫn khí đã bị đóng khi thành ngực xẹp xuống trong khi thở ra. Họ sẽ chu môi lại để miệng chỉ còn là một lỗ nhỏ cho phép khí đi ra. Khi đó, lúc thở ra, hai môi sẽ ngăn dòng khí đi ra ngoài làm tăng áp lực bên trong đường thở bị xẹp làm cho chúng nở ra để bệnh nhân có thể thở ra được hoàn toàn.

Bệnh nhân cũng có thể bị lồng ngực hình thùng, đó là khi khoảng cách từ ngực đến lưng, bình thường nhỏ hơn chiều rộng của lồng ngực, trở nên lớn hơn. Đây là hậu quả trực tiếp của việc khí bị giữ lại bên trong đường dẫn khí đã bị tắc nghẽn.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH

Khi bạn mới bị thở hụt hơi hoặc khi triệu chứng này tăng lên, hãy đến gặp bác sĩ để được khám bệnh. Triệu chứng này có thể là do những bệnh khác gây ra, đặc biệt là những bệnh của tim mạch hoặc những bệnh khác của phổi, do đó điều quan trọng là không nên bỏ qua hoặc xem nhẹ triệu chứng này. Sự giảm dần khả năng gắng sức, ho dai dẳng, khò khè cũng là những dấu hiệu báo động bạn cần phải đi khám bệnh.

Do khói thuốc là một yếu tố nguy cơ nguy hiểm đối với khí phế thũng nên bạn cũng sẽ cần phải bỏ thuốc dưới sự tư vấn của bác sĩ ngay cả khi không có triệu chứng thở hụt hơi. Các bác sĩ sẽ đề nghị bạn một vài phương pháp bỏ thuốc khác nhau và sự giúp đỡ này sẽ làm cho tiến trình bỏ thuốc dễ dàng hơn là bạn tự làm một mình.

Triệu chứng thở hụt hơi phải luôn được xem là nghiêm trọng, đặc biệt là khi nó xuất hiện bất ngờ hoặc diễn tiến xấu đi trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

  • Nếu bạn biết mình bị khí phế thũng, hãy đến phòng cấp cứu của bệnh viện ngay nếu như triệu chứng thở hụt hơi mới xuất hiện, nặng nề hoặc diễn tiến xấu đi. Mất khả năng nói 1 câu hoàn chỉnh có thể là dấu hiệu của thở hụt hơi.
  • Bất kỳ dấu hiệu gợi ý nào của môi, lưỡi, móng tay, hoặc da chuyển sang màu xanh đều nên đến khoa cấp cứu tại bệnh viện lập tức vì dấu hiệu này, dấu tím tái, có thể là biểu hiện của tình trạng diễn tiến nặng của phổi.
  • Thất bại trong việc cải thiện triệu chứng thở hụt hơi hoặc triệu chứng này trở nên xấu hơn bất kể là đã được dùng thuốc có thể là một biểu hiện cần phải được đưa đi cấp cứu.
  • Đợt ho mới xuất hiện hoặc nặng hơn có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm phổi, và cần phải được đưa đi cấp cứu để đánh giá. Tăng tiết đàm nhớt có thể cũng là dấu hiệu của nhiễm trùng. Nhiễm trùng làm cho khí phế thũng nặng hơn và có thể dẫn đến những vấn đề mạn tính sau này.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Khi nghi ngờ bạn bị khí phế thũng dựa vào những lời khai bệnh của bạn, các bác sĩ sẽ thực hiện những thao tác khám bệnh. Bác sĩ sẽ chú ý đặc biệt đến tiếng thở của bạn, tiếng tim và quan sát tổng trạng của bạn. Một số xét nghiệm và các phương tiện cận lâm sàng sẽ được thực hiện tại phòng mạch hoặc trong phòng cấp cứu để xác định mức độ lan rộng của bệnh, chức năng phổi còn lại, và sự hiện diện của nhiễm trùng phổi.

  • X quang phổi giúp các bác sĩ xác định được những thay đổi bên trong phổi có thể gợi ý đến khí phế thũng. X quang phổi cũng có thể cho thấy sự nhiện diện của nhiễm trùng và các khối bất thường bên trong phổi (chẳng hạn như khối u) có thể giải thích được những triệu chứng của bạn. Thở hụt hơi có thể do nhiều nguyên nhân. X quang ngực được hầu hết các bác sĩ xem là phương tiện nhanh nhất và dễ dàng nhất giúp phân biệt được những nguyên nhân khác nhau của triệu chứng này và giúp hình thành chẩn đoán.
  • Đo chức năng phổi cũng cung cấp cho các bác sĩ những thông tin đặc biệt về tình trạng hoạt động cơ năng của phổi. Bệnh nhân sẽ được thở vào bên trong một ống nối với máy vi tính hoặc một số thiết bị theo dõi khác để ghi nhận lại những thông tin cần thiết. Xét nghiệm này có thể xác định được khả năng của phổi có thể chứa được bao nhiêu khí, phổi có thể đẩy không khí ra bên ngoài với tốc độ như thế nào trong khi thở ra, và khả năng đáp ứng của phổi khi được đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chẳng hạn như khi tập thể dục.
  • Nếu bạn có tiền sử gia đình bị thiếu men alpha-1-antitrypsin, các bác sĩ sẽ phải thực hiện xét nghiệm máu để đánh giá.
  • Bạn cũng sẽ được đo công thức máu để kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu, đôi khi có thể phản ánh được một tình trạng nhiễm trùng. Thông tin này có thể kết hợp với x quang ngực để đánh giá viêm phổi, viêm phế quản hoặc những nhiễm trùng hô hấp khác có thể làm cho tình trạng khí phế thũng tồi tệ hơn.
  • Một loại xét nghiệm máu khác cũng có thể hữu ích, đặc biệt là khi được nhập viện, đó là xét nghiệm khí máu động mạch. Các bác sĩ sẽ xác định lượng Oxy, Carbon dioxide bên trong máu của bệnh nhân, thông tin này sẽ thể hiện được tình trạng nặng của bệnh.

ĐIỀU TRỊ

Thuốc

Có thể điều trị khí phế thũng theo nhiều cách khác nhau. Thông thường, các bác sĩ sẽ điều trị theo từng bước, tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

  • Ngừng hút thuốc: mặc dù không thật sự nghiêm ngặt nhưng các bác sĩ cũng cho lời khuyên này đối với bệnh nhân bị khí phế thũng (và đối với tất cả mọi người). Bỏ thuốc có thể làm tiến trình của bệnh ngừng lại và có thể cải thiện chức năng của phổi. Bác sĩ sẽ có thể cho thuốc để cai nghiện hoặc cũng có thể dùng các cách thay đổi thói quen khác như dùng nhóm hỗ trợ. Bạn phải cùng hợp tác với bác sĩ để có thể bỏ thuốc thành công và để bắt đầu cải thiện chức năng phổi và chất lượng sống.
  • Thuốc dãn phế quản: đây là những loại thuốc làm cho đường dẫn khí mở ra lớn hơn giúp trao đổi khí tốt hơn, thường là thuốc được lựa chọn đầu tiên đối với các bệnh nhân khí phế thũng. Ở những trường hợp bệnh rất nhẹ, có thể chỉ cần phải dùng khi cần thiết, trong những giai đoạn bị thở hụt hơi.
    • Thuốc dãn phế quản thường gặp nhất đối với trường hợp khí phế thũng nhẹ là albuterol (Proventil hoặc Ventolin). Nó cho tác dụng nhanh và một liều thường kéo dài trong khoảng 4-6 giờ. Albuterol thường gặp nhất dưới dạng bình xịt định liều hoặc MDI (Metered-dose inhaler) và là dạng thường được dùng nhất đối với các trường hợp khí phế thũng nhẹ với những cơn thở hụt hơi xuất hiện gián đoạn. Trong trường hợp này, albuterol được khuyên dùng như là một thuốc giải cứu. Nó dùng để giải cứu bệnh nhân khỏi những cơn thở hụt hơi cấp tính nặng nề.
    • Nếu bạn bị thở hụt hơi ở một mức độ nào đó ngay cả khi nghỉ ngơi, bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng albuterol thường xuyên theo lịch dưới dạng MDI hoặc xông khí dung. Xông khí dung là khi bạn được hít thở dung dịch thuốc đã được biến thành hơi nước bằng những dòng khí được thổi liên tục (cũng tương tự như cách các nhà hàng làm ẩm không khí bằng cách cho quạt thổi không khí đi xuyên qua nước). Bạn sẽ được xông khí dung một khi dùng dưới dạng hít qua MDI không còn có tác dụng nữa.
    • Ipratropium bromide (Atrovent) là một loại thuốc dãn phế quản khác được dùng trong những trường hợp khí phế thũng tương đối nhẹ. Tương tự với Albuterol, nó cũng có dưới dạng bình xịt định liều hoặc dung dịch dùng để xông. Tuy nhiên, không giống với albuterol, nó thường được cho theo lịch, do đó nó không được kê toa với mục đích cấp cứu. Atrovent cho tác dụng kéo dài hơn albuterol.
    • Methylxanthine (Theophylline) và những loại thuốc dãn phế quản khác có những tính chất khác nhau có thể hữu ích trong những trường hợp nhất định. Tương đối thông dụng là dạng thuốc viên. Theophylline được dùng qua được miệng. Nó có khả năng duy trì tác dụng làm thông đường thở. Buộc phải theo dõi nồng độ theophylline trong máu. Nếu có quá nhiều theophylline sẽ gây ra hiện tượng quá liều, nếu quá ít, sẽ không đủ khả năng làm giảm triệu chứng thở hụt hơi. Ngoài ra, một số loại thuốc khác cũng có thể tác dụng với theophylline, thay đổi nồng độ máu mà không có dấu hiệu báo động nào. Do đó, ngày nay các bác sĩ rất cẩn thận trong việc sử dụng theophylline. Nếu bạn đang dùng theophylline, hãy tuân thủ đúng theo toa và khám lại với bác sĩ trước khi bắt đầu dùng bất kỳ loại thuốc mới nào.
  • Corticoid: làm giảm viêm cho cơ thể. Do khả năng này mà chúng được dùng trong phổi và các nơi khác, chúng đã được chứng minh rằng có một số lợi ích trong khí phế thũng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều đáp ứng với corticoid. Corticoid có thể được dùng qua đường uống hoặc hít qua bình xịt định liều hoặc những dạng hít khác.
  • Kháng sinh: thường được kê toa cho những bệnh nhân khí phế thũng bị tăng thở hụt hơi. Ngay cả khi x quang phổi không cho thấy hình ảnh của viêm phổi hoặc bằng chứng nhiễm trùng, bệnh nhân được điều trị với kháng sinh có khuynh hướng giảm dần thời gian của các giai đoạn khó thở. Người ta nghi ngờ rằng nhiễm trùng có thể đóng vai trò trong những cơn khí phế thũng cấp, ngay cả trước khi nhiễm trùng trở thành viêm phổi hoặc viêm phế quản cấp tính.
  • Thở oxy: nếu bạn bị thở hụt hơi và được đưa đến khoa cấp cứu ở bệnh viện, thường bạn sẽ được cho thở oxy. Cũng có thể cần phải cung cấp oxy cho bệnh nhân bằng cách đặt một ống vào bên trong khí quản cho phép một loại máy có thể giúp thở cho bệnh nhân. Ở một số trường hợp, có thể cần phải thở oxy tại nhà. Có những bình oxygen tại nhà có thể mang đi được và thuận tiện cho những khi thực hiện các công việc thường ngày.

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể thực hiện ở một số bệnh nhân bị khí phế thũng tiến triển.

  • Đầu tiên là phẫu thuật cắt phổi. Mặc dù có thể nó không cho ấn tượng rằng giảm thể tích của phổi sẽ giúp cải thiện triệu chứng thở hụt hơi, điều quan trọng cần nhớ là khí phế thũng gây ra sự giãn nở bất thường của thành ngực, có thể làm giảm hiệu năng hô hấp. Bằng cách lấy đi một số vùng phổi thừa hoặc bị chết, phương pháp này có thể cải thiện khả năng hô hấp và chất lượng sống ở một số người.
  • Đối với những người bị khí phế thũng tiển triển nặng nhất, việc ghép 1 hay cả 2 phổi có thể là cách điều trị tức thời. Ghép phổi sẽ đưa đến một số nguy cơ cũng như thuận lợi khác. Những người được ghép phổi sẽ phải dùng thuốc để ngăn sự đào thải của cơ thể đối với mô ghép. Ngoài ra, không phải tất cả mọi người đều có đủ khả năng ghép, và những người đủ khả năng cũng chưa chắc được ghép bởi số phổi hiến có giới hạn.

NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Theo dõi

Nếu bạn bị khí phế thũng thì việc theo dõi sát là rất quan trọng để kiểm soát bệnh. Bạn cần phải cộng tác tốt với bác sĩ để có thể kiểm soát được sức khỏe của mình.

Phòng ngừa

Phòng ngừa khí phế thũng liên hệ mật thiết với việc phòng tránh khói thuốc. Yếu tố nguy cơ duy nhất của bệnh này mà bạn có thể kiểm soát được là khói thuốc lá. Những người hút thuốc thường xuyên đã đặt chính bản thân và sức khỏe của họ vào sự gia tăng nguy cơ theo mỗi gói thuốc lá và mỗi năm họ tiếp tục hút.

Cơn bùng phát của khí phế thũng có thể được phòng ngừa bằng cách dùng thuốc đã được kê toa và đi khám bệnh khi gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của nhiễm trùng đường hô hấp hoặc thở hụt hơi. Ngoài ra, nếu bạn bị khí phế thũng, bạn nên theo đúng lịch tiêm vaccin để phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp. Điều quan trọng là nên tiêm vaccine pneumococcal mỗi 5 năm và vaccine virus influenza hằng năm, trước khi mùa cúm diễn ra.

Tiên lượng

Khí phế thũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở Hoa Kỳ. Nó là một bệnh mạn tính, tiến triển ảnh hưởng đến chất lượng sống trong ít nhất là toàn bộ quãng đời còn lại.

Tương tự như với nhiều bệnh mạn tính khác, tiên lượng của bệnh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Không có cách điều trị dứt điểm nhưng có những phương pháp hiệu quả để làm chậm lại tiến trình của bệnh để cho người bệnh một cuộc sống bình thường.

Tóm lại, khí phế thũng là một loại bệnh đòi hỏi bạn phải đóng vai trò chủ động trong việc kiểm soát bệnh của mình. Bước đầu tiên là bỏ thuốc lá. Thường xuyên đến khám bệnh và uống thuốc theo toa là rất quan trọng.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Girls Generation - Korean